Tài liệu

Tiếng Việt 6 - Bài 2: GHI ÂM TIẾNG VIỆT BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ

Social Sciences

BÀI 2

 GHI ÂM TIẾNG VIỆT BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ

Hướng dẫn chung

       Bạn cần nhớ lại Bài 1 về cách ghi tiếng Việt bằng chữ Hán và chữ Nôm với những khó khăn, rắc rối của cách ghi đó, rồi bắt đầu tự học bài này.

       Học sang bài này, bạn cần nắm chắc những điều sau:

       (a) Công việc ghi tiếng Việt không bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm: chữ cái Latin là gì? những ai đã làm công việc ghi tiếng Việt bằng chữ cái Latin? ban đầu có những chỗ ghi sai như thế nào? dần dần ghi đúng như thế nào?

       (b) Thái độ của mọi người đối với bộ chữ Việt (chữ quốc ngữ) như thế nào? Người ta chê bộ chữ quốc ngữ như thế nào?

       (c) Ý kiến của bạn về bộ chữ quốc ngữ và về thái độ mọi người?

Hướng dẫn cụ thể

Bạn cần đọc văn bản dưới đây ít nhất ba lần.

Lần thứ nhất, đọc nhanh để nắm toàn bộ ý tưởng, nội dung. Đọc nhanh – trả lời ngắn:

       1. Tên bài là gì? Theo tên đó, bài này viết về vấn đề gì?

       2. Bài trước học về vấn đề gì? Bạn nhớ nhất điều gì ở Bài 1.

Lần thứ hai, đọc chậm, vừa đọc bạn vừa tìm tài liệu liên quan. Làm việc 1: Làm việc cá nhân, tự tìm tài liệu để hiểu:

       1. Vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, Đàng Trong, Đàng Ngoài.

       2. Các giáo sĩ Dòng Tên. Công việc truyền giáo.Các cuốn từ điển đã được các nhà truyền giáo soạn ra. Làm việc 2: Làm việc theo nhóm, chia sẻ:

       3. Các giáo sĩ đến truyền giáo đã ghi tiếng Việt và để lại trong những công trình nào? Các vị nhầm tiếng Việt cũng đa âm tiết như thế nào? Tại sao? Tại sao ban đầu các vị ghi tiếng Việt không có thanh?

Lần thứ ba, đọc nhanh vừa phải và đọc xong thì tự trả lời vào vở nháp – có thể bổ sung bằng làm việc nhóm để chia sẻ kết quả tự học:

       Cuộc sống được lợi gì khi mọi người Việt Nam đọc và viết đúng tiếng Việt? Học chữ quốc ngữ và học chữ Hán, chữ Nôm, cách nào lợi?

       Bạn giới thiệu các ý kiến liên quan đến chủ trương toàn dân học chữ quốc ngữ. Bạn nói ý riêng đối với một trong số ý kiến đó.

----

       Đến thế kỷ 17, tiếng Việt bắt đầu được các nhà truyền giáo phương Tây tìm cách ghi lại bằng bộ chữ cái Latin mà về sau quen gọi bằng chữ quốc ngữ. Hiểu theo nghĩa Hán Việt, đó là bộ CHỮ ghi lại tiếng nói chính thức (QUỐC NGỮ) của người Việt. Tuy được quy định là bộ chữ chính thức ghi tiếng Việt, nhưng trong thời gian dài chữ quốc ngữ vẫn phải tồn tại song song với chữ Hán và chữ Nôm, vẫn bị các nhà nho bảo thủ coi thường vì “không phải là chữ thánh hiền”.

       Sang thế kỷ 20, chữ quốc ngữ ở Việt Nam mới dần dần được phổ cập. Càng ngày người Việt Nam càng nhận rõ ích lợi của chữ quốc ngữ. Trong thời kỳ thuộc Pháp, nhiều người vẫn còn nghĩ rằng chữ quốc ngữ tuy có ghi được mọi lời nói ra, nhưng vẫn cần có tiếng Pháp để đủ sức diễn đạt mọi điều cần cho cuộc sống, nhất là những điều cao siêu trong khoa học và triết học. Cuộc sống thực đã đính chính điều hiểu lầm đó: bây giờ thì ai ai cũng thấy là có thể dùng tiếng Việt ghi bằng chữ quốc ngữ vào toàn bộ các hoạt động dù là khó khăn nhất.

1. Hoàn cảnh ra đời của chữ quốc ngữ

1.1. Xã hội Việt Nam

       Vào thế kỷ 17 các nhà truyền giáo Dòng Tên tới nước ta (khi đó tên là nước Đại Việt). Vào lúc ấy, đất nước còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với sông Gianh (ở tỉnh Quảng Bình) làm ranh giới. Về mặt chính trị, vua Lê vẫn là vua toàn cõi, nhưng chỉ có quyền ở phía Bắc (còn gọi là Đàng Ngoài) và do các chúa Trịnh nắm thực quyền, còn ở phía Nam (còn gọi là Đàng Trong) thực quyền nằm trong tay chúa Nguyễn đang mở mang bờ cõi rộng dần về phía Nam. Chính vì vậy, tuy là một đất nước, nhưng kỳ thực đó là hai miền riêng biệt, giới cầm quyền biến hai miền thành hai cõi.

       Nhưng nếu tìm ở cột số 201 trong cuốn Từ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes, chúng ta còn thấy đề mục Đàng tlên (Đàng Trên), là phần đất thuộc tỉnh Cao Bằng do nhà Mạc chiếm giữ. Vậy nếu chấp nhận điều các nhà truyền giáo nêu ra, có thể nói đất nước bị chia thành ba miền chứ không chỉ là hai.

       Người dân ta khi đó nói tiếng nói của dân tộc mình nhưng chữ viết vẫn được biểu đạt ở hai dạng: chữ Hán (còn gọi là chữ nho) và chữ Nôm.

1.2. Dòng Tên (Societas Jesus)

       Những nhà truyền giáo đến nước ta ban đầu đều thuộc dòng tu gọi là Dòng Tên. Sao lại gọi là “Dòng Tên”? Đó là vì người sáng lập đã lấy chính tên Chúa Jesus để đặt tên cho Dòng. Dòng tu này được Ignace de Loyola thành lập ngày 27/9/1540 do Giáo Hoàng Paul III phê chuẩn. Các nhà truyền giáo Dòng Tên đều tình nguyện đến các nước phương Đông để [...] “mở ra những chân trời mới cho Tin Mừng được gieo vào lòng người Á, Phi, Mỹ”[1]. Do đó, có thể hiểu mục đích truyền giáo cùng đi kèm với mục đích tìm công bằng cho xã hội, và hoạt động trong địa hạt văn hóa và giáo dục. Các nhà truyền giáo này được đào tạo rất kỹ lưỡng trước khi đi truyền giáo ở những đất nước xa xôi, và sau đó các vị cũng học hỏi không ngừng và để lại nhiều công trình quý báu.

       Chúng ta cũng nên biết rằng vào thời đó việc đi lại khó khăn và chủ yếu bằng đường biển. Vậy mà từ năm 1542, François Xavier đã tới Goa[2] mở ra một thời kỳ truyền giáo mới tại châu Á. Sau đó vào năm 1549 các nhà truyền giáo Dòng Tên đã tới truyền giáo ở Nhật Bản, tiếp đó năm 1582 họ tới Trung Quốc. Khi tới những quốc gia này, ngoài mục đích truyền giáo, các nhà truyền giáo Dòng Tên còn nghiên cứu về phong tục, tập quán, ngôn ngữ bản địa và tạo ra một loại chữ viết mới theo cách Latin hóa ngôn ngữ bản địa. Chính vì vậy ngay từ năm 1564 họ đã cho in cuốn Ngữ pháp tiếng Nhật[3] và năm 1595, cuốn Từ điển Latin–Bồ–Nhật được hoàn thành.

       Cũng như vậy tại Trung Quốc, chỉ trong vòng 5 năm (1583–1588) các giáo sĩ Ruggieri và Ricci đã soạn xong cuốn Từ điển Bồ–Trung và đến năm 1626, Linh mục Trigault cũng cho ra mắt cuốn sách về phương pháp học tiếng Hán.

       Sở dĩ các cuốn từ điển thời đó thường được xuất bản bằng cả chữ Latin và Bồ Đào Nha vì khi đó Dòng Tên hoạt động được phép của Giáo Hoàng nhưng lại được vua Bồ Đào Nha bảo hộ về mặt kinh tế, đi lại, cho nên các văn bản đều được in ấn bằng cả hai thứ tiếng.

Dừng lại luyện tập nhanh
  1. Dòng Tên là dòng tu do ai sáng lập và các giáo sĩ thuộc dòng tu này có đặc tính gì? Họ có khẩu hiệu gì khi sang hoạt động ở châu Á?
  2. Bạn có nhớ một vài tên các giáo sĩ Dòng Tên không? Các vị đó đã làm những gì trước khi đến Việt Nam?
  3. Bạn hãy vào mạng Internet để sưu tầm một số hình ảnh về những hoạt động của các nhà truyền giáo Dòng Tên.

 

1.3. Dòng Tên tới Việt Nam

       Năm 1613, tại Nhật Bản nổ ra cuộc cấm đạo trên cả nước, cho đến năm 1614 hầu hết các nhà truyền giáo Dòng Tên bị trục xuất khỏi Nhật Bản và phải tạm lánh về Macao. Trong lúc đó có một nhà buôn người Bồ Đào Nha tới báo tin với Thống đốc Macao và Cha Valentim Carvalho, đức giám tỉnh Dòng Tên Nhật Bản[4] rằng Đàng Trong là xứ trù phú, tàu thuyền đi lại thuận tiện. Vậy là Cha giám tỉnh cử ba linh mục[5] đầu tiên tới miền đất Đàng Trong. Ngày 6/1/1615 tàu nhổ neo từ Macao và tới ngày 18/1/1615 ba ông đã đặt chân tới Cửa Hàn thuộc Đà Nẵng.

       Theo bản tường trình của Linh mục Christoforo Borri[6], sau khi tới Cửa Hàn vào dịp lễ Phục sinh, Buzomi cho xây một nhà nguyện. Sau đó các ông tới Hội An cũng trong năm 1615 và các ông xây dựng cơ sở[7] đầu tiên tại đây vào cuối năm 1615. Khi đó Hội An là hải cảng sầm uất, là nơi giao thương buôn bán của các tàu thuyền người Bồ Đào Nha, Hà Lan và là nơi định cư của người Hoa và Nhật. Sở dĩ ba nhà truyền giáo này mở được cơ sở đầu tiên tại Hội An vì tại đó có rất nhiều giáo dân Nhật đang buôn bán và sinh sống. Có lẽ mục đích chính của các nhà truyền giáo này khi tới Đàng Trong là để lo linh hồn cho những Nhật kiều này, rồi nhận thấy đây là mảnh đất màu mỡ để truyền đạo Công giáo, nên nhờ sự thông ngôn của những người Nhật tại đây, các vị đã xây được cơ sở đầu tiên[8].

       Khi đó, việc ghi tiếng Việt vẫn chưa như lối chữ chúng ta dùng ngày nay. Nếu muốn hỏi người dân có muốn gia nhập Công giáo không, câu nói được ghi như sau:

“Con gnoo muon bau tlom Hoalaom chiam”[9] – con nhỏ muốn vào trong Hoa Lang chăng?

Chú giải:

– gn tiếng Ý phát âm giống nh tiếng Việt ngày nay.

– Tiếng bau ghi cách phát âm ở thế kỷ 17, về sau âm đó biến dần thành v.

– Âm đầu tl là tổ hợp phụ âm kép sau này biến thành tr hoặc gi

tùy theo các phương ngữ.

–  Hoa Lang để chỉ Đạo của người Bồ Đào Nha, ở đây là Thiên Chúa giáo.

Để tránh cho người dân hiểu nhầm về đạo Công giáo nên Buzomi đã tìm được câu hỏi ghi lại như sau:

“Muonbaudauchristiamchiam” – Muốn vào đạo Christiam (đạo Công giáo) chăng?

       Nếu chú ý, các bạn sẽ thấy câu nói được ghi bên trên chưa ghi được tiếng Việt có thanh. Chúng ta không tìm được chính bản viết tay của Borri nên không biết được ở thời ấy các ông đã bắt đầu dùng dấu thanh để ghi âm tiếng Việt có thanh hay chưa. Câu ghi lại ở trên được trích trong bản in tại Roma. Chúng ta cũng biết rằng thời đó, kỹ thuật in ấn chưa cho phép in những chữ viết có dấu thanh như cách ghi tiếng Việt bây giờ.

2. Tiếng Việt và các nhà truyền giáo phương Tây

       Người phương Tây đầu tiên thành thạo tiếng Việt là giáo sĩ Francisco de Pina người Bồ Đào Nha tới Đàng Trong năm 1617. Khi in sách của mình, ngay trong phần “Cùng độc giả”, nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes[10] đã nhấn mạnh đến vai trò của Pina, nhà thừa sai Bồ Đào Nha này:

“Ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, thuộc dòng hội Jesus rất nhỏ bé của chúng tôi, là thày dạy tiếng, là người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này”.[11] 

       Còn với Alexandre de Rhodes, ông tới Đàng Trong tháng 12 năm 1624 và ông được đưa về Thanh Chiêm (Dinh Chàm) học tiếng Việt với Francisco de Pina, và ông đã viết:

“tôi phải thú nhận rằng khi vừa tới Đàng Trong và nghe người dân xứ này, đăc biệt là phụ nữ nói chuyện, tôi có cảm giác như mình nghe tiếng chim gù và tôi gần như mất hy vọng có thể học được thứ tiếng này”.[12]

       Trên thực tế với người nước ngoài, tiếng Việt khó vì “nó khác các ngôn ngữ châu Âu quá”.[13] Khó là vậy nhưng không có nghĩa là không thể học được bởi “chỉ sau sáu tháng học, tôi có thể nghe và giải tội được, nhưng muốn hiểu biết đầy đủ, thì phải học thêm bốn năm nữa”.[14]

       Riêng với Alexandre de Rhodes, ngoài việc học tiếng Việt với Cha Pina thì ông còn học tiếng Việt với một em nhỏ 13 tuổi, nhờ em mà chỉ sau ba tuần ông có thể phân biệt được thanh điệu và cách phát âm của tiếng Việt[15] và theo ông, sáu thanh của tiếng Việt hoàn toàn phù hợp với sáu âm vực do, re, mi, pha, sol, la. Có lẽ thanh điệu là rào cản lớn nhất để người phương Tây học được tiếng Việt; vì theo Rhodes, cùng một chữ dạ, có tới hai mươi ba nghĩa khác nhau theo từng cách phát âm[16].

       Ông còn thuật lại có lần ông bảo người giúp việc đi chợ mua cá thế nhưng sau đó người này mang về một rổ đầy cà, ông hiểu rằng ông đã phát âm sai thanh điệu. Lại một lần khác, ông bảo người giúp việc đi chém tre, thế nhưng ông thấy trẻ em trong nhà chạy tán loạn, nguyên do là ông phát âm nhầm tre thành trẻ.

3. Giai đoạn sơ khai của chữ quốc ngữ

       Dựa vào các văn bản viết tay bằng chữ Bồ Đào Nha, Latin hiện được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại Rome có điểm xuyết những chữ quốc ngữ đầu tiên (hầu hết là tên các địa danh hoặc tên người), chúng ta có thể phác họa lại đặc điểm của cách ghi bằng chữ quốc ngữ thời kỳ đầu tiên.

3.1.       Thời kỳ sơ khai

STT

João Roiz

–1621[17]

Christoforo Borri–1621[18]

Gaspar Luis–1626[19]

Antonio de Fontes–1626[20]

Ghi tiếng gì

1

Annam

Annam

 

 

An Nam

2

Sinoa

Sinnua

 

sinuâ, sinoá

Xứ Hóa (tức xứ Thuận Hóa)

3

Unsai

Onsaij

 

 

Ông sãi

4

Cacham

Cacciam

Cacham

Cacham

Ca Chàm (tức Kẻ Chàm)

5

Ungue

Omgne

unghe

 

Ông Nghè

6

Ongtrũ

 

 

 

Ông trùm

7

Nuocman

nuoecman

Nuocman

nuócman

Nước mặn

8

Bafu

 

 

 

Bà Phủ

9

Banco

Bancò

 

 

Bàn cổ

Bũa

 

 

Vua

Chiuua

 

 

Chúa

10

Oundelim

 

Ondelim

Ondelim

Ông đề Lĩnh

        Trong những cách ghi bên trên, ta thấy các linh mục vẫn ghi tiếng Việt với các âm tiết liền vào nhau. Chúng ta biết rằng các ngôn ngữ châu Âu mẹ đẻ của các Cha đều là đa âm tiết, còn tiếng Việt thì đơn âm tiết. Trong những văn bản viết tay có chữ quốc ngữ đầu tiên, dấu ấn cách ghi đa âm tiết thể hiện rất rõ trong các văn bản này.

3.2.     Thời kỳ bắt đầu tách chữ theo âm tiết

       Chúng ta cùng quay lại câu hỏi của Buzomi:

“Con gnoo muon bau tlom Hoalaom chiam”

       Chúng ta thấy đây là một lối viết chưa có dấu thanh, nhưng các tiếng cũng đã được ghi lại tách rời nhau (trừ trường hợp Hoalaom).

       Và đến các văn bản của Gaspar de Amaral[21] viết năm 1632, các tiếng đã được tách rời và dấu thanh cũng gần như hoàn thiện. Thực ra văn bản có trong tay hiện nay không phải là bút tích của Amaral viết. Sở dĩ như vậy vì vào thế kỷ 17, đi lại khó khăn, việc trao đổi thư từ phải gửi qua các thuyền buôn, có khi phải mất vài tháng thư mới tới nơi. Ấy là chưa kể tàu thuyền hay bị bão đánh, cho nên để đề phòng thất lạc, mỗi một lá thư gốc luôn được sao thêm một hoặc hai bản nữa (do các thợ chép sao chép lại), lá thư gốc được ký hiệu “1a via”, lá thư chép được ký hiệu lần lượt “2a via”, “3a via”. Ví dụ tài liệu mà chúng tôi có của Amaral được đánh ký hiệu ở đầu là “2a via” tức là nó không phải của Amaral viết nhưng ông đã rất cẩn thận sửa lại những chữ quốc ngữ được viết trong văn bản.

       Trong thư đó, thấy có những cách ghi như sau:

Đàng tlão, đàng ngòay, đàng tlên: Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đàng Trên.

Nhà thượng đày: nhà thượng đài, cơ quan cấp phủ. Nhà huyẹn (nhà huyện): mỗi phủ có một số huyện. Oũkhỏũ: Ông Khổng (Khổng Tử).

ʗbua (vua).

chúa oũ: Chúa Ông (thời đó, vua trị vì nhưng chúa mới là người có thực quyền).

 

3.3. Hoàn thiện cách ghi các thanh

       Chúng ta đều biết tiếng Việt có sáu thanh. Thế nhưng, vì các ngôn ngữ Châu Âu không có thanh, nên trong thời kỳ đầu các nhà truyền giáo đều viết tiếng Việt không có dấu. Để phác thảo quá trình dấu thanh tiếng Việt được sáng tạo như thế nào, chúng ta sẽ xem lại các văn bản viết tay, và tìm các dấu thanh xuất hiện dần trong các văn bản này (theo thứ tự thời gian).

Dấu thanh

Năm xuất hiện

Trong văn bản của tác giả

ví dụ

Dấu huyền

1621

Borri

Chià

Dấu sắc

1625

Antonio de Fontes

Bến Đá

Dấu hỏi

1632

Gaspar de Amaral

Kẻ Chợ

Dấu ngã

1632

Gaspar de Amaral

Vĩnh Tộ

Dấu nặng

1632

Gaspar de Amaral

Nghệ Ăn

 

       Vậy là phải sau 17 năm kể từ khi các giáo sĩ đặt chân đến Đại Việt, hệ thống dấu thanh của tiếng Việt mới xuất hiện đầy đủ trên các văn bản viết tay. Trên thực tế, khi đó các giáo sĩ Dòng Tên mới chỉ dùng chữ quốc ngữ để ghi các địa danh hoặc tên các nhân vật xen kẽ trong các lá thư mà các Linh mục gửi về cho vua Bồ Đào Nha hoặc Giáo Hoàng.

       Các giáo sĩ đã lấy các dấu thanh trong các tiếng nào để áp dụng cho tiếng Việt?

       Trong 31 trang ngữ pháp đính kèm vào cuốn Từ điển của mình, Alexandre de Rhodes cũng giải thích:

“Chúng tôi đã nói rằng các thanh hầu như là hồn của các từ trong ngôn ngữ này, chính vì vậy phải rất thận trọng khi học các thanh. Do đó chúng tôi dùng ba dấu của tiếng Hy Lạp là: dấu sắc, dấu huyền và dấu ngã; mà bởi vẫn chưa đủ nên chúng tôi thêm dấu chấm dưới (nặng) và dấu hỏi của chúng ta”.

       Vậy dấu nặng và dấu hỏi là mượn của ngôn ngữ nào mà các ông lại dùng cụm từ “của chúng ta”? Truy về nguồn gốc các dấu thanh, chúng tôi tìm thấy dấu nặng chính là chấm iota Hy Lạp và dấu hỏi là của tiếng Latin (trong tiếng Latin, nếu chúng ta đọc lên giọng một câu, thì có ý nhằm để hỏi, câu mang nghĩa khác đi).

       Có lẽ các ông muốn nhắm chỉ tới nhóm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Roman. Các ông còn ví các thanh điệu tiếng Việt với sáu nốt nhạc do, re, mi, pha, sol, la, và quả thực đấy là sự giàu có của tiếng Việt như Rhodes đã lấy ví dụ tiếng ba nếu thêm các thanh và ghi chữ ba bằng các dấu khác nhau thì các tiếng sẽ mang ý nghĩa khác nhau.

       Trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài,[22] ông đưa ra nhận định về sự khác nhau của thanh điệu tiếng Trung và tiếng Việt như sau:

“Tiếng Trung chỉ có năm dấu, tiếng Annam thì có sáu, hoàn toàn phù hợp với các nốt nhạc của chúng ta. Điều này làm cho các tiếng đều khác nhau về nghĩa, đến nỗi không có tiếng nào mà không ghi thêm một trong sáu dấu như là hồn và đặc tính của tiếng đó”.

       Ông còn nhận ra được sự khác biệt giữa tiếng nói và chữ viết của nước ta thời đó:

“Những dấu thanh không được ghi trong chữ viết của họ, nhưng chỉ biểu hiện trong giọng nói mà thôi: điều này thực sự làm khó chúng tôi, mặc dầu sự đa dạng các thanh này cũng thể hiện trí thông minh của dân nước này. Thế nhưng chúng tôi đã nghĩ cách ghi các giọng khác nhau đó bằng tất cả cách viết của chúng ta, làm cho chúng ta hiểu biết sự khác biệt trong cung giọng để hiểu ý nghĩa”.

 

Luyện tập giữa chừng
  1.      Các bạn hãy nghĩ ra và đóng kịch vui với nhau:

(a)   Diễn tả cách phát âm tiếng Việt đa âm tiết giống như tiếng nói bên châu Âu.

(b)   Diễn tả cách nói tiếng Việt không có dấu thanh và những hiểu lầm thú vị xảy ra với các nhà truyền giáo.

(c)   Đóng kịch vui về những tình huống hiểu nhầm do tiếng có thanh khác nhau.

  1. Các bạn thảo luận trong nhóm: Tại sao mất nhiều năm mới ghi đúng các âm tiếng Việt?
  2. Các bạn thảo luận trong nhóm: Tại sao các nhà truyền giáo thật sự quan tâm ghi thật chính xác tiếng Việt?

 

4. Cuốn Từ điển Việt–Bồ–La và văn bản in đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ

       Trước tiên chúng ta sẽ nói về hoàn cảnh ra đời của cuốn Từ điển Việt–Bồ– La, mang tên gốc là: Dictionnarivm Annamiticvm Lvsitannvm et Latinvm được phép in ngày 5 tháng 2 năm 1651 với sự tài trợ của Nhà in bộ Truyền Giáo tại Roma. Trên cuốn từ điển, tên tác giả đề là: Alexandre de Rhodes.

       Cuốn Từ điển ngày nay đã được số hóa tại đường dẫn sau: http://books.google.fr/books?id=2AdHAAAAcAAJ&printsec=frontcover& hl=fr&source=gbs_ge_summary_r&cad=0#v=onepage&q&f=false  (Do  Google số hóa); http://purl.pt/961/4/#/8 (Do Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha số hóa).

       Vì sao thời đó lại viết là v chứ không phải u? Vì trong tiếng Latin, u phát âm như v cho nên chúng ta thấy trong các văn bản thế kỷ 17, 18 không thấy chữ u xuất hiện. Kể cả cho đến tận đầu thế kỷ 20 đôi khi người ta vẫn dùng v để chỉ u, ví dụ các bạn sẽ thấy ở Trường Đại học Dược Hà Nội, người ta ghi Directevr.

4.1. Cấu tạo cuốn Dictionarivm

Vì sao đây lại là một cuốn từ điển được viết bằng ba thứ tiếng?

       Tiếp theo phong trào Latin hóa các ngôn ngữ phương Đông, khi các giáo sĩ đến Đại Việt họ cũng bắt đầu Latin hóa tiếng Việt. Mặc dù không phải là các nhà ngôn ngữ, nhưng các giáo sĩ đã ghi âm với khả năng tuyệt vời theo nguyên tắc: nghe thế nào ghi lại thế ấy. Và chúng ta tin đây là các giáo sĩ đã ghi âm trung thành với âm mình nghe được, ta cũng sẽ lý giải nhận định này ở phần sau.

       Quay trở lại với cuốn Dictionarivm, theo Rhodes lý giải ở phần “Cùng độc giả”, mới đầu cuốn từ điển này được làm bằng tiếng Việt và tiếng Bồ, nhưng sau đó theo lệnh của các vị Hồng y, Rhodes mới thêm phần tiếng Latin vào. Chính vì vậy cuốn từ điển này mới thành Việt–Bồ–La. Tại sao lại là tiếng Bồ? Chúng ta biết rằng thời đó Bồ Đào Nha là một quốc gia hùng mạnh, họ giương buồm đi buôn bán trao đổi hàng hóa khắp nơi. Các giáo sĩ sang Đại Việt truyền giáo cũng là đi theo thuyền của các nhà buôn Bồ Đào Nha và Giáo Hoàng cho phép hoạt động nhưng bảo trợ tài chính lại là vua Bồ Đào Nha. Còn vì sao các vị Hồng y lại yêu cầu Rhodes thêm phần tiếng Latin vào? Thực ra có lẽ vì các vị cũng muốn giảm ảnh hưởng của vua Bồ Đào Nha tới Giáo hội và hơn nữa cũng để thêm một công cụ tra cứu cho người Việt học tiếng Latin.

       Ngoài phần trình bày lý do ra đời cuốn Từ điển ở trang đầu và phần “ad lectorem –cùng độc giả”, cuốn Dictionarivm bao gồm ba phần chính:

Phần I. Lingvae Annamaticaeseu Tvnchinensis brevisdeclaratio (tức là phần Ngữ pháp tiếng Việt được soạn bằng tiếng Latin gồm 31 trang, chia thành 8 chương:

Chương I – De literis et syllabisquibushase lingue constat (chữ và vần trong tiếng Việt),

Chương II – De Accentibus et aliissignis in vocalibus (thanh điệu và các dấu), Chương III – De Nominibus (Danh từ),

Chương IV – De Pronominibus (Đại danh từ),

Chương V – De Aliis Pronominibus (các Đại danh từ khác), Chương VI – De Verbis (Động từ),

Chương VII – De Reliquisoratio misindeclinabilibus (những phần bất biến), Chương VIII – Praceptaquacdamad syntaxim pertinentia (cú pháp).

Phần II. Dictionarivm Annamiticvm seu Tunchinense cum lusiatna, et latina declaratione.

Phần này không đánh số trang, chỉ đánh số cột, mỗi trang chia làm hai cột, có tất cả 900 cột, nhưng mục từ (“đầu vào”) nọ sang mục từ kia thường để một vài trang giấy trắng. Mỗi mục từ được giải nghĩa theo thứ tự chữ Bồ rồi đến chữ Latin.

Tôi đã đếm tổng số từ trong phần này: tổng cộng bao gồm 6.129 mục từ chính, mỗi từ chính lại có thêm các từ phụ thành ra tổng số từ tiếng Việt được viết bằng chữ quốc ngữ trong Từ điển là 9.085 từ.

Phần III. Index Latini sermonis

Phần này mỗi trang chia làm hai cột, không có ghi số trang và số cột, nhưng có tất cả 350 cột, tức là 175 trang. Trong mỗi cột, tác giả liệt kê các chữ Latin, bên cạnh mỗi chữ có ghi số cột của chữ Latin ấy ở Phần II. Như vậy người biết chữ Latin sẽ tra cứu được chữ Việt tương ứng.

4.2.     Ai là tác giả cuốn Từ điển Việt–Bồ–La

       Từ mấy trăm năm nay, Rhodes vẫn luôn được coi là tác giả của cuốn từ điển. Thế nhưng ngay ở phần “Ad lectorem – Cùng độc giả” ông cũng đã nhấn mạnh:

“Ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào Nha thuộc dòng Jésus rất nhỏ bé của chúng tôi, là thày dạy tiếng và là người thứ nhất trong chúng tôi am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất có thể thuyết giảng bằng ngôn ngữ đó mà không cần thông ngôn. Tôi cũng sử dụng công trình của các Cha khác cùng hội Dòng, đặc biệt là của hai Cha Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng Annam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào Nha, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông tôi còn thêm tiếng latin của các vị Hồng y đáng kính vì ngoài những tiện lợi khác, nó còn giúp ích cho người bản xứ học tiếng Latin”.

       Vậy là đã rõ, cuốn Dictionarivm là một công trình tập thể của các Cha Dòng Tên, và vì Rhodes là người chịu trách nhiệm in ấn tại Rome cho nên cuốn từ điển mang tên của Ngài, và có lẽ Ngài là người tổng hợp hai cuốn từ điển của hai vị người Bồ và dịch phần Latin. Nếu vậy, chúng ta sẽ xem hành trình của ba vị giáo sĩ ra sao, họ gặp nhau khi nào? Và tại sao Cha Rhodes lại có bản thảo của hai vị kia?

       Trước tiên chúng ta nói về Gaspar de Amaral. Ông sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 1/7/1608, ông đã làm giáo sư dạy tiếng Latin, Triết học, Thần học tại các học viện và Đại học Evora, Braga, Coimbra ở Bồ Đào Nha. Năm 1623, Gaspar de Amaral đến Macao. Vào tháng 10 năm 1626, ông cùng với thầy Paulus Saito (1577–1633 người Nhật) đến Đàng Ngoài cho đến tháng 5 năm 1630, cả hai cùng với Linh mục Alexandre de Rhodes và Pedro Marques về Macao. Ngày 18/2/1631, Gaspar cùng ba linh mục khác là André Palmeiro, Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim từ Macao đáp tàu Bồ Đào Nha đến Cửa Bạng (Thanh Hóa) và đến ngày 15–3–1631, các nhà truyền giáo này mới đến Kẻ Chợ (Thăng Long).

       Sau đó các Linh mục Palmeiro và Fontes trở về Macao còn Amaral và Cardim ở lại tiếp tục công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài. Năm 1638, Linh mục Amaral được gọi về giữ chức Viện trưởng Viện Thần học tại Macao, như vậy ông đã ở Đàng Ngoài được bảy năm.

       Trong thời gian ở Đàng Ngoài, ông bắt tay vào biên soạn cuốn từ điển Bồ–Việt. Điều này đã được ông nói đến trong bản tường trình gửi cho vua Bồ năm 1634.[23]

       Antonio Barbosa sinh năm 1594 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên vào ngày 13/3/1624. Năm 1629, ông được cử đến truyền giáo ở Đàng Trong và đến tháng 4 năm 1636, ông có đến Đàng Ngoài truyền giáo. Khi ông tới nơi, Amaral đã chuyển ông về Cửa Rum[24] để học tiếng Việt và biên soạn cuốn từ điển Bồ–Việt[25]. Cho đến tháng 5 năm 1642, vì lý do sức khỏe, ông phải trở về Macao dưỡng bệnh. Cũng do tình trạng sức khỏe không tốt nên sau một thời gian tĩnh dưỡng, ông rời Macao đi Goa và ông đã từ trần trên đường đến Goa năm 1647.

       Còn Alexandre de Rhodes thì sao? Ông sinh ngày 15/3/1591 tại Avignon, miền Nam nước Pháp, tổ tiên ông gốc Do Thái. Chúng ta nhớ rằng thời đó, Avignon tiếng là nằm trong nước Pháp nhưng lại là phần đất của Tòa Thánh, cho nên Rhodes không phải là người Pháp mà là người của Tòa Thánh.

       Alexandre de Rhodes gia nhập Dòng Tên ở Rome ngày 14/4/1612. Sau khi được thụ phong linh mục, ông được phép đi truyền giáo. Ông đến Lisbonne, thủ đô Bồ Đào Nha, rồi từ đây đáp tàu đi đến Macao ngày 29/5/1623. Ông đặt chân lên Đại Việt lần đầu tiên vào tháng 12/1624 tại Cửa Hàn.

       Rhodes đến cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm thuộc Quảng Nam Dinh, nơi đây có Linh mục Francisco de Pina.[26] Tại đây Rhodes học tiếng Việt với Francisco de Pina. Tháng 7 năm 1626, ông rời Đàng Trong về Macao. Ngày 19–3–1627, ông cùng với Linh mục Pierre Marquez đến Cửa Bạng (Thanh Hóa), ở đây, hai ông có yết kiến Trịnh Tráng[27], rồi sau đó theo chúa Trịnh ra Thăng Long, thời gian này hai linh mục lập giáo đoàn Đàng Ngoài. Tháng 5 năm 1630, chúa Trịnh cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ, Rhodes trở về Macao.

       Từ năm 1630 đến năm 1640, Rhodes dạy Thần học ở Học viện Thần học Macao. Năm 1640, ông được cử đến Đàng Trong làm Bề Trên, thay thế Linh mục Buzomi vừa từ trần tại Quảng Nam Dinh, ông ở đây cho đến ngày 3/7/1645, bị bắt buộc phải rời cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm, ông rời hẳn Đại Việt, trở lại Macao. Ngày 20/12/1645 ông đáp tàu từ Macao đi Âu châu, nhằm mục đích vận động thành lập hàng giáo phẩm Đại Việt.

       Ngày 16/11/1654, Toà thánh La Mã cử Rhodes làm Bề Trên của phái đoàn truyền giáo ở Ba Tư (cách gọi cũ tên nước Iran ngày nay). Đầu tháng 11/1655, ông đáp tàu từ Marseille đi Ispaham thủ đô Ba Tư (ngày nay là Teheran), và tại đây ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5 tháng 11 năm 1660.

       Cho đến nay, chưa có tài liệu nào công bố thời gian và địa điểm Rhodes đã soạn quyển Dictionarivm Annamiticvm Lusitanvm et Latinvm. Theo dấu chân của Rhodes, chúng ta biết ông có thể bắt đầu soạn quyển từ điển trong khoảng năm 1636–1645 là thời gian ông dạy Thần học ở Học viện Thần học tại Macao. Sở dĩ chúng ta có thể đưa ra được giả thuyết này vì năm 1645, Linh mục Amaral bị đắm tàu chết đuối. Trước đó ít hôm, Rhodes đã rời Macao trở về châu Âu. Chúng ta lại biết thêm rằng, thời gian từ 3/7/1645 đến 20/12/1645 là thời gian cả ba Linh mục Rhodes, Amaral và Barbosa đều có mặt tại Học viện Thần học ở Macao, có lẽ họ đã có quyết định giao cho Rhodes mang hai quyển từ điển của họ về nhà in của Bộ Truyền giáo ở Roma để in và hai bản gốc của hai cuốn từ điển của hai Cha người Bồ vẫn là một ẩn số. 

       Vậy thời điểm Rhodes hoàn thiện việc biên soạn quyển Dictionarivm Annamiticvm Lusitanvm et Latinvm là khoảng năm 1649–1651, và ngày 5/2/1651 được Linh mục F. Piccolomineus Bề trên cả Dòng Tên cho phép xuất bản.

4.3.     Đóng góp của người Việt

       Dù sao, chữ quốc ngữ hình thành cũng nhằm mục đích chính là làm phương tiện truyền giáo cho các giáo sĩ thuộc Dòng Tên ở Đại Việt. Bên cạnh các giáo sĩ, giáo dân Annam thời đó đã có đóng góp không nhỏ vào công cuộc truyền giáo.

       Trước tiên chúng ta điểm qua quá trình các nhà truyền giáo Dòng Tên học tiếng Việt. Các vị đã học và ghi lại điều mình học, thế rồi chữ quốc ngữ được hình thành dần dần. Đầu tiên là Pina:

“phần con, con đã soạn thành một tập nhỏ về chính tả và các dấu thanh của tiếng này (Việt) và con đang bắt tay vào việc soạn ngữ pháp. Dù con đã thu thập được nhiều truyện thuộc các loại khác nhau giúp cho những trích dẫn thêm giá trị; hầu xác định được ý nghĩa của từ ngữ và quy luật ngữ pháp; tuy nhiên, cho đến nay con vẫn phải nhờ người ta đọc cho con những truyện đó để con viết sang chữ Bồ Đào Nha”[28].

       Còn Rhodes thì sao? Ông cũng học tiếng Việt với một em nhỏ 13 tuổi. Nhờ em nhỏ này mà chỉ cần sau ba tuần, Rhodes đã có thể phân biệt được các thứ thanh tiếng Việt và cách phát âm mỗi tiếng[29].

       Và chữ quốc ngữ đã dần dần ra đời và hoàn thiện.

       Chẳng hạn như tài liệu của 14 giáo dân người Việt ghi bằng chữ quốc ngữ, về việc họ xác nhận tán đồng ý nghĩa phương thức rửa tội, do 31 linh mục Dòng Tên soạn thảo ở Viện Thần học tại Macao năm 1645[30].

       Ngoài ra, như trong minh họa dưới đây, có bản viết tay năm 1659 của Bento Thiện, tựa đề Lịch sử nước An nam[31], tập Lịch sử nước An nam này gồm 6 tờ giấy tức là 12 trang, viết chữ nhỏ, phần nhiều các trang viết trong khổ 20 x 29 cm.

Chúng tôi xin giới thiệu trang đầu của tập này, có ghi là 1a via

(...hình ảnh...)

Nội dung bản viết tay trên như sau:

“Nước Ngô trước hết mới có vua trị vì là Phục Hi. Vua thứ hai là Thần Nông. Con cháu vua Thần Nông sang trị nước Annam, liền sinh ra vua Kinh Dương Vương. Trước hết lấy vợ là nàng Thần Long, liền sinh ra vua Lạc Long Quân. Lạc Long Quân trị vì, lấy vợ tên là Âu Cơ, có thai đẻ ra một bao có trăm trứng, nở ra được một trăm con trai. Mà vua Long Quân là Thủy Tinh ở dưới biển, liền chia con ra: năm mươi con về cha ở dưới biển, mà năm mươi con thì về mẹ ở trên núi; đều thì làm Chúa trị mọi nơi.

“Lại truyền dõi đến đời vua Hùng Vương, trị nước Annam được mười tám đời, cũng là một tên là Hùng Vương. Sau hết sinh ra được một con gái, tên là Mị Châu. Một nhà Sơn Tinh một nhà Thủy Tinh, hai nhà đến hỏi lấy làm vợ, thì vua cha là Hùng Vương nói rằng: ai có của đến đây trước thì ta gả con cho. Nhà Sơn Tinh là vua Ba Vì đem của đến trước, thì vua Hùng Vương liền gả cho. Bấy giờ liền đem về núi Ba Vì khỏi. Đến sáng ngày nhà Thủy Tinh mới đến, thấy chẳng còn liền giận lắm; hễ là mọi năm thì làm lụt, gọi là dơng sóng nước mà đánh nhau.

“Ngày sau có giặc nhà Ân là người Ngô sang đánh vua Hùng Vương. Vua liền cho sứ giả đi rao thiên hạ, ai có tài mệnh thì đánh giặc cho vua. Sứ liền đi rao, đến huyện Vũ Đinh, làng Phù Đổng, thì có một con trai lên ba tuổi, còn nằm trong trõng (chõng), chẳng hay đi cũng chẳng hay nói, mà nghe tiếng sứ rao qua liền hay gọi mẹ mà hỏi rằng: ấy khách nào, đi gì đấy? Mẹ rằng: khách nhà vua đi rao ai mệnh thì đi đánh giặc cho vua, mà sao con chẳng dậy mà đi đánh giặc cho vua, cho mẹ ăn mày bổng lộc. Thằng bé ấy bảo mẹ rằng: mẹ hãy gọi quan khách ấy vào đây. Mẹ liền đi gọi quan ấy vào, mới chiềng quan rằng: mới thấy sự lạ, mà khiến tôi gọi ông vào. Quan ấy liền hỏi rằng: thằng bé kia, mầy muốn đánh giặc cho vua chăng mà mầy gọi tao vào? Bấy giờ thằng bé ấy nói rằng: mầy có muốn cho tao đánh giặc cho vua, thì về bảo vua đánh một con ngựa sắt, lại đánh một cái thiết vọt sắt đem đến đây, cùng thổi một trăm nong cơm, cùng một trăm nong rượu cho tao ăn uống. Quan ấy liền về tâu vua thì vua mừng, liền làm như vậy. Quân quốc vua liền đem đến cơm cùng rượu, thằng bé dậy ngồi, liền ăn hết một trăm nong cơm, một trăm lực sĩ dọn chẳng kịp, rượu thì cớt cả vào cong mà uống. Đoạn liền lên cỡi ngựa sắt ấy, liền hay chạy cùng kêu cả tiếng, ngựa liền đi trước, quân vua thì theo sau, đi đánh giặc nhà Ngô, giặc liền chết hết, lại giật lấy bụi gai là ngà mà kéo lên mình quân giặc, nát thịt cùng gãy hết chân tay ra. Đánh giặc đoạn liên lên trên núi Sóc mà bay lên trời và người và ngựa. Nước Annam còn thờ đến nay, gọi là Đổng Thiên Vương, nói nôm gọi là Vường Đống (Vương Đổng – Đổng Thiên Vương).

“Ngày sau hết đời vua Hùng Vương liền có vua Thục Đế là vua Kinh Dương Vương, mà Vua ấy xây thành ở huyện Đông Ngàn mà dựng một rùa vàng. Vua liền lấy vuốt nó mà làm lãy nỏ mà bắn ra đâu thì giặc liền sợ đấy”.

Luyện tập giữa chừng
  1. Hãy tóm tắt và trình bày với nhau trong nhóm: Tại sao có thể nói Từ điển Việt–Bồ–La là công trình tập thể? Công trình chung của những ai? Hãy nói qua tiểu sử các vị đó.
  2. Hãy “chấm bài” cho bài viết của Bento Thiện có tựa đề Lịch sử nước An nam bên trên. Hãy chỉ ra các sai phạm về chính tả và về cách dùng từ ngữ trong bản viết tay đó.
  3. Có người cho rằng “những sai sót trong bản viết tay của Bento Thiện là những sai sót đáng yêu hoặc là những sai lầm bác học”. Bạn có đồng ý với ý kiến đó không?

 

 

5. Thành tựu Latin hóa chữ Việt

       Phần trên đã trình bày về quá trình các nhà truyền giáo Dòng Tên lấy các dấu của tiếng Hy Lạp, Latin để áp dụng vào quá trình Latin hóa chữ Việt. Sở dĩ chúng ta dùng cụm từ “Latin hóa” là để chỉ việc cách giáo sĩ đã dùng chữ cái và dấu của ngữ hệ Latin để ghi lại âm và thanh điệu của tiếng Việt và sản phẩm của quá trình này sẽ được dùng và gọi tên là chữ quốc ngữ – bộ chữ để ghi tiếng nói chính thức của một quốc gia–dân tộc.

       Quá trình làm ra bộ chữ quốc ngữ đó được kéo dài trong rất nhiều năm, và nhiều khi công việc bị ngắt quãng vì nhiều lý do không thuộc ý chí của các nhà truyền giáo.

       Như việc này: ngày 3–7–1645, Alexandre de Rhodes bị trục xuất khỏi vương quốc Đại Việt:

“thân thể tôi rời khỏi Đàng Trong nhưng trái tim tôi còn mãi ở lại nơi này, cả ở Đàng Ngoài nữa”[32].

       Ông bắt đầu cuộc hành trình về Macao rồi đi châu Âu, mãi tới ngày 27–6– 1649 ông mới về tới Vatican, và xin cấp giấy phép xuất bản cuốn Từ điển Việt– Bồ–La và cuốn Phép giảng tám ngày đồng thời vận động Giáo Hoàng gửi thêm linh mục sang Đàng Trong và Đàng Ngoài.

“Chúng tôi có đầy đủ lý do để sợ rằng những gì đã xảy ra ở Giáo hội Nhật Bản thì có thể sẽ xảy ra nơi Giáo hội Annam, vì những vua chúa ở Đàng Trong và Đàng Ngoài rất có quyền và thích chinh chiến. Tòa Thánh cần gửi những chủ chăn đến những miền Đông Phương nầy nơi mà Ki tô hữu gia tăng thật nhanh chóng. Nếu không có Giám mục, người ta chết không được làm bí tích gì cả, thật là tai hại!”[33]

       Và với sự chấp thuận của Giáo Hoàng, Rhodes còn sang Pháp để vận động vua và hoàng hậu đưa thêm người sang miền Viễn Đông, và chính ông cũng là người thành lập Hội Thừa sai Paris. Đây là “Hội” chứ không là một “Dòng tu”. Đó là một tổ chức truyền giáo của Giáo hội Công giáo, bao gồm cả linh mục và giáo dân, tức những người dấn thân cho công việc truyền giáo ở hải ngoại. Tên tiếng Pháp của “Hội Thừa sai” có nghĩa là “Hội những nhà truyền giáo ở nước ngoài”.

       Năm 1659, Hội Thừa sai Paris được đổi thành Bộ Truyền bá đức tin, yêu cầu tuân thủ ba nguyên tắc nền tảng trong sứ mạng truyền giáo. Đó là: thích ứng với phong tục tập quán địa phương, thành lập Giáo sĩ bản xứ, và thông tin liên lạc với Rome.

       Từ đây công cuộc truyền Giáo ở Đại Việt có thêm nhân lực và họ cũng để lại những dấu ấn trong việc hoàn thiện chữ quốc ngữ.

Từ điển của Pigneaux de Béhaine

       Cuốn từ điển thứ hai bằng chữ quốc ngữ là cuốn Việt–La của Linh mục Pigneaux de Béhaine (lâu nay vẫn gọi là Cha Cả, hoặc gọi theo tên Việt là Bỉ Nhu Bá Đa Lộc hoặc Bách Đa Lộc).

       Sinh năm 1741 tại Origny en Thiérache, Aisne Pháp, Pigneaux de Béhaine đã hoàn tất việc học của mình ở Paris và sau đó theo vào chủng viện Hội Thừa sai Paris (Société des Missions Etrangères – Paris). Nhà truyền giáo trẻ tuổi này rời Lorient Pháp năm 1765 và đến Hà Tiên năm 1767, được bổ nhiệm vào chủng viện ở đây và trở thành cha cả năm 1769[34].

       Chúng ta nhớ rằng thời đó Hà Tiên là phần đất mà Mạc Cửu[35]  dâng cho chúa Nguyễn để được chúa Nguyễn bảo trợ, nên cư dân ở đó chủ yếu là người Hoa và người Việt sinh sống làm ăn buôn bán. Và trước tình hình chúa Nguyễn cấm đạo ở Đàng Trong thì tại vùng đất này các linh mục vẫn được tự do đi lại để truyền giáo, hơn nữa ở đó cũng có rất nhiều giáo dân sinh sống.

        Tuy nhiên, cũng trong năm 1769, ông lại bị trục xuất khỏi Đàng Trong cùng với các nhà truyền giáo khác do các cuộc cấm đạo của chúa Nguyễn. Các ông tới Pondichéry (nằm ở vùng Đông Nam Ấn Độ trong vịnh Bengale, nơi đã có nhiều cơ sở thương mại và hành chính của Pháp từ năm 1673). Trong thời gian ở Pondichéry, ông tiếp tục trau dồi và trở nên thông thạo cả tiếng Hoa và tiếng Việt. Đến năm 1772, ông đã biên soạn xong một bộ từ điển Việt–Latin “Dictionarium Anamitico–Latinum”[36]. Cuốn từ điển này được ông biên soạn dưới dạng văn bản viết tay. Cuốn từ điển Việt–Latin làm trong thời gian de Béhaine ở Pondichéry, nghĩa là chỉ năm năm sau khi Pigneaux de Béhaine tiếp xúc với Việt Nam. Như vậy, ông phải là người có một sức làm việc, một óc tổ chức và một khiếu về ngôn ngữ tầm cỡ. Hơn nữa ông lại được một nhóm các nhà truyền giáo người Việt, người Pháp hỗ trợ đắc lực.

       Cuốn sách được biên soạn trong tinh thần nào? Bài nhập đề cuốn từ điển không phải của tác giả, mới thêm vào sau này, có nói đến chủ ý của Pigneaux de Béhaine là:

“Phải truyền đạo bằng cách tấn công vào cái tim và cái đầu của xã hội mà ta muốn xâm nhập. Muốn được như vậy phải gây ấn tượng với giới có học, trên mặt khoa học cũng như trên mặt văn hoá. Muốn kéo vào đạo Ki tô những nhà nho hay những quan chức có thế quyền trong xã hội Đàng Trong, thì phải nhử họ và chinh phục họ ở lĩnh vực mà họ giỏi. Tôn giáo phải được trình bày với họ trong một ngôn ngữ và phong cách toàn hảo. Cuốn sách được làm ra như là một công cụ cần thiết cho những nhà truyền giáo Âu châu, cho các thầy giảng giáo lý Việt Nam, và nhắm vào việc in ấn sách tôn giáo có chất lượng. Cuốn sách không phải là một thứ tiêu khiển trí thức mà là một công cụ truyền đạo trong giới Hán–Việt.”

       Từ điển song ngữ Việt–La, khổ 25 x 35cm, dày 729 trang, nên khá nặng. Mỗi từ đơn hoặc kép tiếng Việt hay cụm từ tiếng Việt được ghi bằng chữ Nôm hay chữ Hán và chữ quốc ngữ và được giải thích bằng tiếng Latin. Cách sắp đặt theo thứ tự chữ Nôm trước, chữ quốc ngữ sau. Một điều khác đáng chú ý là Pigneaux không phân biệt chữ Nôm và chữ Hán. Phải đợi đến Từ điển của Huỳnh–Tịnh Paulus Của (1895) và kế đó của J. Bonet (1898–1900) mới phân biệt chữ Nôm và chữ Hán. Qua sự phân biệt này ta mới thấy có sự đối lập rõ ràng giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Xin lưu ý rằng năm 1867, G. Aubaret trong phần Nhập đề cuốn Grammaire Annamite (Văn phạm tiếng Việt)[37] vẫn nhận định là “Tiếng bình dân nói trong vương quốc Annam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc”.

       Về nội dung, từ điển của de Béhaine có gần 6.000 mục từ. Nếu tính cả từ kép và cụm từ thì vốn từ của sách có thể đến hơn bốn vạn, so với từ điển của de Rhodes thì tăng khá rõ.

       Vì đây là một cuốn từ điển lấy ngôn ngữ miền Hà Tiên làm gốc, cho nên chủ yếu từ vựng là phương ngữ miền Nam. Ví dụ:

a)  Có từ lầm mà không có nhầm; có lanh mà không có nhanh; có lời mà không có nhời; nhưng có lem cũng có nhem. Có nhơn mà không có nhân; có ơn mà không có ân; nhưng vừa có mần vừa có làm.

b)  Trên mặt ngữ âm thì từ điển của Pigneaux de Béhaine không còn thấy những nhóm phụ âm đầu mnhầm, mlầm. Nhóm bl như trong blái cũng không còn. Nhóm tl chỉ còn có một từ tla. Vì thế chữ quốc ngữ trong sách của Pigneaux gần với chữ quốc ngữ hiện đại ta đang dùng hơn.

c) Từ điển của de Béhaine là một nhân chứng quý giá của tiếng Việt thế kỷ 18, là một nguồn tư liệu quý về tiếng Đàng Trong. Nhất là từ điển cung cấp cho ta nhiều cứ liệu về chữ Nôm thế kỷ 18.

       Đặc biệt, cuốn từ điển của Pigneaux de Béhaine là một mốc quan trọng trong việc hoàn thiện chữ quốc ngữ so với cuốn từ điển đầu tiên in năm 1651 của Alexandre de Rhodes.

       Các vần ong, ông, ung được ghi như chữ quốc ngữ hiện nay.

       Các phụ âm kép đã biến mất hoàn toàn và chỉ còn duy nhất một phụ âm kép tl tồn tại trong từ tla (tra).

Hệ thống các âm và cách ghi

       Như bên trên đã nói, thời gian GHI ÂM tiếng Việt, tạo ra chữ quốc ngữ, đã kéo dài nhiều trăm năm. Cũng trong khoảng thời gian quá dài đó, bản thân tiếng Việt cũng thay đổi [chúng ta có thể nhận thấy sự thay đổi đó trong tiếng Việt chúng ta đang dùng] và điều đó cũng phản ánh trong các bộ chữ được ghi lại.

       Căn cứ vào các cuốn từ điển, ta thấy cuối cùng thì các linh mục cũng dần dần phân biệt được đúng các phụ âm tiếng Việt như hiện nay chúng ta đang dùng, được ghi bằng các con chữ sau (theo thứ tự trong từ điển):

Bảng chữ cái trong Việt–Bồ–La có các chữ như sau:  A–Ă–Â B–BL ʗb C–CH D Đ E–Ê G–GH–GI H I (J) K–KH L M–ML N–NG–NH–NGH O–Ô–Ơ PH Q R S

T–TH–TL V (U)–Ư X

Phần phụ âm ghi được hồi thế kỷ 17 như sau:

B–BL ʗb C–CH D Đ G–GH–GI H K–KH L M–ML N–NG–NH–NGH PH Q R S T–TH–TL V X

Và sau quá trình biến đổi ngữ âm, chúng ta có bảng phụ âm tiếng Việt hiện đại như sau:

B C–CH D Đ G–GH–GI H K–KH L M N–NG–NH–NGH PH Q R S T–TH–TR V X

 

       Về việc ghi các phụ âm đó, vừa là một nguyên tắc (nói ra hoặc không nói ra) và cũng vừa là thói quen, các cha đều dựa theo cách ghi quen thuộc của ngôn ngữ Âu châu. Điều đó dễ hiểu: vì việc ghi là để phục vụ trước hết cho các nhà truyền giáo Âu châu. Tuy việc ghi tiếng Việt bằng bộ chữ quốc ngữ về sau cũng rất có ích lợi cho người Việt, nhưng đó chưa phải là mục đích đầu tiên. Chưa kể là với bất cứ cách ghi nào thì cũng là điều mới mẻ cho người Việt, cần phải học mới nắm được luật ghi và cách dùng.

       Thực ra, ngay từ đầu, trong Từ điển Việt–Bồ–La, các linh mục còn ghi một số phụ âm kép, có thể điểm sơ qua và ca ngợi tính chính xác của các Linh mục như sau:

Tổ hợp bl, ml, tl

       Vì sao các phụ âm kép này có mặt trong Từ điển Việt–Bồ–La?

       Tiếng Việt thế kỷ 17 vẫn còn tồn tại ba tổ hợp âm đầu tl, bl và ml (đôi khi là mnh), đó là kết quả còn lại của tiếng Việt (khi vẫn còn nằm trong nhóm Việt– Mường) những thế kỷ trước đây như pl, bl, kl, phl, khl, ml[38] đến giữa thế kỷ 17, hai nhóm phl, khl chuyển thành s [ş], còn tổ hợp pl nhập vào bl, kl nhập vào tl, vì vậy đến thế kỷ 17 chỉ còn lại ba tổ hợp âm đầu tl, bl và ml (đôi khi là mnh). Ba tổ hợp này được A.de Rhodes ghi lại trong Từ điển Việt–Bồ–La năm 1651. Trong tiếng Việt hiện nay, các tổ hợp tl, bl, ml không còn tồn tại. Điều đó chứng tỏ tiếng Việt có sự đơn hoá triệt để dần trong hệ thống phụ âm đầu; hay nói cách khác sự rút gọn dần hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt chi phối đến cơ cấu ngữ âm tiếng Việt. Một số tổ hợp âm đầu có từ thời tiền Việt – Mường và một số tổ hợp âm đầu khác là kết quả rút gọn những từ ngữ âm song tiết trước đây và đến những thế kỷ sau này nó đã chuyển dần thành những âm đầu đơn. Chẳng hạn: từ nửa sau thế kỷ 17 đến nay các âm tl, bl và ml có những sự biến đổi rõ rệt; tl, bl > tr [ƫ] ml > nh [ɲ] và l [l]. Đây là con đường biến đổi cơ bản của ba tổ hợp âm đầu:

Ví dụ: tlâu → trâu; tlời → trời, giời; blời → trời; mlời → lời.

       Đến nửa sau thế kỷ 17, tl chuyển thành tr; đây là hướng biến đổi cơ bản của tl nói chung, ngoài ra tl còn một số biến đổi nhỏ khác phụ thuộc vào các thổ ngữ và phương ngữ; ở phương ngữ Bắc Bộ tl và bl hợp nhất biến đổi thành tr hoặc gi ví dụ con tlai biến thành trai hoặc giai tùy vào cách phát âm của từng vùng và từng miền. Đến thế kỷ 18, trong Từ điển Việt–La của Pigneaux de Béhaine (1772) tl chỉ còn xuất hiện một lần là tla (tra).

Các nguyên âm tiếng Việt

       Cũng giống như với các phụ âm, các nguyên âm đã được các linh mục dần dần ghi lại đầy đủ như chúng ta đang biết hôm nay và ghi bằng các chữ cái:

a – e – ê – i – o – ô – ơ – u – ư

       Song, nhìn vào cách ghi phần vần trong Từ điển Việt–Bồ–La, thì có thể thấy phần vần là phần khó phiên âm nhất. Các ông giải thích:

“Từ những nguyên âm đã nói kết hợp được các nhị trùng âm ai, ao, ei, eo và i đứng trước mọi nguyên âm khác, nhưng lại đứng sau phụ âm g ví dụ gia, gie... phát âm theo thói quen, và oi, ei, aŏ, oŭ, ơi, ui, ưi, những thứ này thói quen sẽ dạy bảo”[39].

       Điều đáng quan tâm nhất là cách phiên âm các vần: ong, ông, ung các ông đã dùng ký hiệu aŏ và oŭ là những âm mũi tròn môi của tiếng Bồ Đào Nha. Thế nhưng nếu chúng ta phát âm các vần ong, ông, ung trong tiếng Việt thì chúng ta sẽ thấy đó không phải là những vần tròn môi mà thực tế là các vần khép (môi khép lại khi phát âm). Vậy các giáo sĩ đã ghi sai?

       Trong một khảo sát điền dã mới đây, mùa hè năm 2015, tại tỉnh Quảng Nam, chúng tôi đề nghị người dân phát âm các vần này và thấy người dân phát âm ong, ông, ung thành các âm mũi nửa khép[40]. Vậy đây rõ ràng là một minh chứng tiêu biểu cho nguyên tắc phiên âm của các giáo sĩ: nghe thế nào ghi thế ấy.

       Bên cạnh đó, còn có cách ghi các phụ âm c, g, ng trước e, ê, i mà do các linh mục chịu ảnh hưởng của chính tả các ngôn ngữ châu Âu, nên ngày nay chúng ta thừa hưởng (và cũng hơi gây khó khăn cho người học): ke, kê, ki, ghe, ghê, ghi, nghe, nghê, nghi.

       Đồng thời, ở giai đoạn các giáo sĩ ghi âm tiếng Việt, do sự tôn trọng khắt khe cách phát âm của người Việt, các cha cũng ghi lại (khiến bây giờ thành một thứ luật bắt buộc đối với người học), đó là phân biệt cách ghi bằng chữ d, chữ gi, chữ r, (mà xu thế nói năng ngày càng đơn giản đi thành âm [z], đó là (một số ví dụ):

ra (đi ra đi vô), rổ rá, (phá bom mìn), ra rả (kêu)...

da (thịt da, da dẻ, nổi da gà, chén da lươn, nhớ da diết...), dạ (lòng dạ, mũ dạ, vâng dạ), (dã chiến, công dã tràng...)

gia (gia đình, gia tộc, gia chủ...), già (cụ già, tuổi già, già đòn non nhẽ), giá (giá đỡ, giá cả, giá trị...), giã (giã gạo, giã biệt, giã đám),... rong (rong rêu, rong ruổi, rong chơi, bán hàng rong), dong (thong dong, cao dong dỏng, dong buồm ra khơi), giong (trống giong)  rung (rung rinh, rung cây dọa khỉ), dung (ung dung, khoan dung) rông (thả rông, chạy rông), (nhà rông), dông (dông dài, dông bão), giông (giông giống)

6. Con đường áp dụng chữ quốc ngữ vào nền giáo dục toàn dân

       Phần này tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về ngôn ngữ cũng như quan điểm của những người Pháp, các nhà trí thức Việt Nam thời đó, để xem việc áp đặt chữ quốc ngữ vào nền giáo dục toàn dân và phổ biến chữ quốc ngữ có hợp với tiếng nói của người Việt hay không? Và liệu đó có phải là một giải pháp cho việc nâng cao dân trí?

       Quay lại mục đích tạo ra chữ quốc ngữ của các cha Dòng Tên. Gaspar de Amaral muốn tạo ra một dạng chữ viết để các linh mục có thể liên lạc dễ dàng với nhau và họ sẽ được học thứ chữ này trước khi lên đường đi truyền giáo[41].

6.1.    Vì sao chữ quốc ngữ được áp dụng?

       Như đã trình bày ở phần trên, kể từ khi ra đời, chữ quốc ngữ chỉ được sử dụng trong cộng đồng Công giáo chứ nó chưa được phổ biến ra bên ngoài.

       Nhưng mọi chuyện đã thay đổi kể từ năm 1858 sau khi người Pháp đổ bộ vào Cửa Hàn rồi đến khi họ đổ bộ vào Sài Gòn ngày 17 tháng 02 năm 1859.

       Tới năm 1861, trường Adran Sài Gòn được thành lập. Và ở thời kỳ đầu này, quân viễn chinh Pháp phải nhờ đến Hội Thừa sai để được cung cấp những người thông ngôn đầu tiên.

       Ở thời kỳ này, chữ quốc ngữ cũng đã bắt đầu được dạy trong nhà trường tuy thời lượng còn ít. Bắt đầu năm 1866, việc dạy tiếng Pháp cho người Việt Nam được khởi sự nhưng vẫn còn nằm trong tay các giáo sĩ; Giáo hội lần hồi mở trường ở Mỹ Tho, Vĩnh Long và Chợ Lớn. Các trường học nhà dòng được chính quyền thuộc địa trợ cấp.

       Ngày 17/11/1874, đô đốc Dupré ra quyết định tổ chức lại hoàn toàn nền giáo dục quốc dân[42]. Nền giáo dục này được tuyên bố là miễn phí và tự do, tuân theo quy định chung của giáo dục quốc dân ở Pháp. Việc giáo dục (ở Nam Kỳ lúc đó) chịu mệnh lệnh trực tiếp của giám đốc nội vụ và đặt dưới sự giám sát của các trường quận mà trách nhiệm thuộc về các viên chức hành chánh.

       Các trường làng dạy chữ Hán bị bãi bỏ hoặc sáp nhập vào trường ở quận lỵ, biến thành một trường duy nhất dạy chữ quốc ngữ. Có sáu trung tâm thanh tra: Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng, mỗi nơi đều có một trường Pháp.

       Có thể nói rằng buổi đầu thời Nam Kỳ thuộc địa Pháp, tổ chức giáo dục ở đây còn đang trong thời kỳ mò mẫm, việc đem chữ quốc ngữ thay thế hẳn chữ Nôm và chữ Hán có khi phải khựng lại, bằng chứng là việc tái lập các chức đốc học, giáo thọ, huấn đạo, và tổ chức lại các cuộc thi hương[43].

       Có thể nói việc áp dụng chữ quốc ngữ vào nền giáo dục không hề đơn giản và vấp phải rất nhiều khó khăn. Vì dẫu sao người Pháp khởi xướng cũng là người đi chinh phục và không dễ thuyết phục người dân nước sở tại chấp nhận một lối viết khác thay thế một thứ chữ viết đã gắn với họ cả tận 19 thế kỷ. Hơn nữa, việc áp dụng chữ quốc ngữ sẽ có lợi cho người Pháp học tiếng Việt, vì chúng ta hiểu rằng khi người Việt nói tiếng Việt thì chỉ cần học cách viết nhưng đối với người nước ngoài học tiếng Việt, họ sẽ phải học tiếng Việt thông qua con chữ – hiển nhiên chữ quốc ngữ dễ học hơn với người Pháp vì cùng nằm trong lối viết theo ngữ hệ Latin.

       Trước làn sóng mới này, xuất hiện hai bên ý kiến ủng hộ và phản đối dùng chữ quốc ngữ: bên ủng hộ mà đại diện là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, họ phải đương đầu với một hàng ngũ còn hùng mạnh thuộc trường học Hán–Nôm truyền thống mà đại diện là các nhà nho yêu nước như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, v.v... Cuộc đối địch không thuần xảy ra giữa hai hệ chữ viết của một ngôn ngữ mà còn giữa hai thái độ chính trị, những niềm tin tôn giáo khác nhau: Thiên chúa giáo với ba tôn giáo khác đã ăn sâu vào tư tưởng của người dân: Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo.

       Chúng ta hãy cùng xem quan điểm ý kiến của họ.

a)  Bên ủng hộ

       Tờ Courrier de Saigon số 7 ngày 5–4–1865, đăng lời rao về Gia Định báo số đầu tiên như sau:

“Trong tháng này sẽ ra số thứ nhất một tờ báo in bằng tiếng An Nam thông thường”.

và mục đích của Gia Định báo là:

“Tờ báo này nhằm phổ biến trong giới dân bản xứ tất cả những tin tức đáng cho họ lưu ý và cho họ có một kiến thức về những vấn đề mới có liên quan đến văn hoá và những tiến bộ về ngành canh nông...”.[44] Tờ báo này do “Pétrus Trương Vĩnh Ký, người với tư cách là chánh tổng tài của tờ này”[45].

       Sau này, lợi ích và vai trò của nó còn được Trương Vĩnh Ký nhấn mạnh trong cuốn Manuel des écoles primaires (Giáo trình cho các trường tiểu học, 1876) như sau:

“Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này”.

       Ông cho rằng loại chữ viết đơn giản, dễ học này sẽ là phương tiện hiệu quả để tiếp thu những kiến thức mới vì ba lý do:

“Thứ nhất, do nạn mù chữ đại trà trong dân, tiếp theo là chữ Hán sẽ không còn có ích một khi người Pháp cai trị Nam Kỳ, và cuối cùng, chỉ cần ba tháng là có thể biết đọc và viết chữ quốc ngữ.”

b)      Bên chống đối

       Đại diện cho bên phản đối áp dụng chữ quốc ngữ là cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu, theo cụ đó là thứ chữ của kẻ xâm lược: xâm lược tôn giáo và xâm lược lãnh thổ. Chữ quốc ngữ còn có khi được cho là “Tây quốc ngữ tức là tiếng nói được viết ra bằng các con chữ Âu châu”[46].

       Sau này Phạm Quỳnh có tổng hợp lại ý kiến của bên phản đối chữ quốc ngữ. Theo quan điểm của các nhà thủ cựu:

[Họ cho rằng] “Phàm văn tự, có khó khăn mới thâm thuý. Nay chữ quốc ngữ dễ quá, đứa bé lên năm, học trò sơ học mở quyển sách ra cũng đọc lau láu được ngay, thì cái văn chương sản xuất bằng thứ chữ ấy tất là thô thiển bỉ tiện, không xứng đáng là văn chương được”[47] mà họ không biết rằng “chính chữ quốc ngữ là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy”.

       Mặc dù vậy chữ quốc ngữ cũng đã có những thắng lợi bước đầu, sau sự ra đời của Gia Định báo, tiếp đến một số tờ báo chữ quốc ngữ khác cũng được ra đời như Phan Yên báo (1868), Nhật trình Nam Kỳ (1883), Nam Kỳ địa phận (1883).

       Ngoài việc soạn giáo trình dạy chữ quốc ngữ, viết văn xuôi, Trương Vĩnh Ký chuyển ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu bình dân, gồm những áng văn vần và chuyện dân gian rất được ưa chuộng, như Phép lịch sự Annam (1881), Thơ dạy làm dâu (1882), Thơ mẹ dạy con (1882),... “Hồi đó, ông (Trương Vĩnh Ký) cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc ngữ được lan rộng trong nhân gian...”[48]. Phải nhấn mạnh rằng một phần ba trong tổng số 118 tác phẩm của ông là các công trình dịch thuật.

c)       Quan điểm của người Pháp[49]

       Eliacin Luro là thanh tra bản xứ vụ (inspecteur des affaires indigènes) trong chính quyền Pháp mới đặt ở Nam Kỳ:

“Tôi không muốn sự dùng chữ tượng hình tiếp tục mãi. Nhưng tôi cho rằng muốn phá bỏ chúng... thì phải hiểu biết chúng để vận động một cách cẩn thận. Tôi nhìn nhận rằng chúng không thể được thay thế hoàn toàn trước khi một ngôn ngữ bình dân hoàn hảo hơn được tạo ra, tôi biết rằng phương tiện duy nhất để chuyển từ tiếng Việt qua tiếng Pháp là việc sử dụng các con chữ Latin [...] Sau cùng tôi cho rằng sự thay thế một hệ chữ viết này bằng một hệ khác là không tùy thuộc vào một nghị định của chính phủ mà ý chí sẽ bị tan vỡ trước sức ỳ của dân chúng và trước sức mạnh của sự sử dụng trong thương mãi...

 

       Thưa các ngài, nguồn gốc của những sai lầm đó là người ta cứ tưởng là người ta có thể dạy trong vài năm cho một dân tộc quên đi được ngôn ngữ và phong tục của mình... ”[50].

       Tuy nhiên theo Etienne Aymonier:[51]

“Các nhà truyền giáo, những kẻ phát minh ra chữ quốc ngữ, đã sử dụng thứ chữ viết này để truyền đạo của mình. Chuyện này rất đúng nhưng phải nói thêm rằng công cụ này rất đơn giản, thật tiện lợi cho những ai chỉ nhắm vào một sự dạy dỗ có giới hạn những tư tưởng bình dân, luân lý, hay đạo giáo. Công cụ này không cho tiếp cận những chủ đề cao xa, văn chương hay khoa học”.

và ông kiến nghị dạy tiếng Pháp:

“Chớ nên dạy tiếng Pháp cho hàng thân hào, cho giới lãnh đạo, mà phải nhắm vào những đứa trẻ của dân thường, con gái lẫn con trai. Tốt hơn là nhắm vào từng nhóm làng xã, chỗ này chỗ kia, trước tiên là ở những vùng phụ cận những trung tâm, hay trong những làng Thiên chúa giáo, ở tất cả những nơi mà người dân có thiện chí. Đó là cách mà tôi gọi là cắm ngôn ngữ vào cội nguồn cho nó bắt rễ”[52].

       Theo E. Roucoules:[53]

“Chữ viết này (tức chữ quốc ngữ) trên mọi mặt là tối ưu, và chúng ta sẽ sai lầm nếu không dùng đến nó. Phải chăng là đã đạt đến một điểm lớn nếu có thể cho cả một dân tộc có khả năng trong vòng vài tuần lễ học viết được một ngôn ngữ nói thật thông thường... cũng như một ngôn ngữ hằng ngày, [...]. Người An Nam viết và viết rất nhiều. Số lượng thư từ mà họ gởi cho nhau nhiều vô số và số tiền bưu điện thu vào gia tăng rất đều là một chứng cớ về cái nhu cầu trao đổi giữa họ với nhau.

[...] Ta không thể cho rằng tiếng An Nam thông tục có khả năng dùng vào các lập luận trừu tượng hay khoa học. Nhưng việc dạy ở cấp cao đó chỉ có thể dành cho những phần tử tinh hoa trong dân chúng, và thực hiện bằng tiếng Pháp, bằng tiếng Pháp đúng đắn và chân chính [...].

       Sự dùng chữ quốc ngữ như chúng tôi đề ra đem đến một cái lợi tức khắc là không làm gián đoạn với quá khứ và những thói quen”[54].

6.2.     Chữ quốc ngữ lan rộng ra Bắc Kỳ

       Sau khi được sử dụng làm chữ viết “chính thức” của tiếng Việt ở Nam Kỳ thuộc Pháp, chữ quốc ngữ bành trướng ra phía Bắc. Những biến cố lịch sử có tác động vào, hoặc đánh dấu lên sự bành trướng này là việc Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Hà Nội thất thủ, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết[55]. Sau đó ngày 6–6–1884, triều đình Huế và Pháp ký hiệp ước Patenôtre, theo đó nước Pháp sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại. Như vậy từ đây chữ/tiếng Hán nhường bước cho chữ/tiếng Pháp trên mặt ngoại giao. Một cách lặng lẽ trong các cuộc giao thiệp quốc tế, tiếng Việt/chữ quốc ngữ hoàn toàn vắng bóng, chịu sự “bảo hộ” của tiếng Pháp.

       Sau khi Paul Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương năm 1886, ông tiến hành một loạt cải tổ trên tất cả các lĩnh vực. Cụ thể trong năm này ông cho thiết lập Bắc Kỳ Hàn lâm viện (Académie Tonkinoise), rồi tới năm 1896, Toàn quyền Ðông Dương ra nghị định cho thành lập một trường Pháp–Việt ở Huế, gọi là Trường Quốc học Huế.

       Ngày 6/6/1898, Toàn quyền Ðông Dương đặt thêm một kỳ thi phụ cho khoa thi hương trường thi Nam Ðịnh. Môn thi gồm năm bài tiếng Pháp và có phần dịch sang tiếng Việt (bằng chữ quốc ngữ).

       Ngày 15/12/1898, Toàn quyền Ðông Dương Paul Doumer ra nghị định thành lập Phái đoàn Khảo cổ học Thường trực tại Ðông Dương (Mission Archéologique Permanente en Indochine), đến 20/10/1900 đổi thành Trường Viễn Ðông bác cổ (Ecole Française d'Extrême–Orient) đặt tại Sài Gòn rồi tới 1902 chuyển ra Hà Nội.

       Cùng với một loạt các cải tổ và đàn áp, nước Việt Nam dưới mắt người Pháp xem như đã được bình định, nhà cầm quyền Pháp bắt đầu đặt những cơ chế về hành chính, giáo dục để cai trị và bảo hộ các xứ thuộc địa. Các cơ chế chính quyền của triều đình nhà Nguyễn dần dần hoặc bị thay thế hoặc bị làm suy yếu đi không còn thực quyền. Hán học, nền tảng của công cuộc đào tạo sĩ phu, quan chức nhà Nguyễn, theo đó cũng tàn tạ nhường chỗ cho lớp quan chức mới xuất thân từ các trường Pháp–Việt. Chữ quốc ngữ từ trong Nam lan ra đất Bắc, xen vào các kỳ thi; biết Quốc ngữ trở thành một yêu cầu để bước vào quan trường. Tuy vậy, vào cuối thế kỷ 19, những bước đi đầu tiên của chữ quốc ngữ ở miền Bắc còn rất e dè, như lời tự thuật của nhà nho Nguyễn Bá Học:

“Tôi lúc mới học Quốc–ngữ thường không dám học to tiếng, chợt có khách đến phải giấu ngay sách vào trong túi áo, hình như có hai mươi bốn mẫu– tự quốc ngữ, là một cái sách bí–mật cấm thư”[56].

6.3.     Bước ngoặt cho thành công của chữ quốc ngữ

       Nhưng bước ngoặt quyết định dẫn đến sự thành công của chữ quốc ngữ là do chính các nhà nho trong hàng ngũ phong trào Duy pân và Ðông Kinh nghĩa thục.

       Phong trào Duy tân phát động từ năm 1905 ở Quảng Nam với ba lãnh tụ: Trần Quý Cáp[57], Phan Châu Trinh[58] và Huỳnh Thúc Kháng[59]. Bộ ba này năm 1905 nhân chuyến vào Nam, đến Bình Ðịnh, mượn tên ứng thí trong một kỳ thi đã làm hai bài thơ Chí thành thông thánh và Danh sơn lương ngọc đả kích những người còn bát cổ văn chương thụy mộng trung (ngủ mê trong giấc mộng văn chương bát cổ). Hai bài thơ này rõ ràng tấn công vào nền cựu học, bài xích cái học cử nghiệp, mở đầu cho chủ trương tân học sau này của phong trào.

       Ðông Kinh nghĩa thục khai giảng tháng 3 năm 1907 tại phố Hàng Ðào, Hà Nội, chương trình noi theo đường lối tân học của Trung Quốc và Nhật Bản. Trong các sĩ phu sáng lập có cụ cử Lương Văn Can, thục trưởng của trường; cụ huấn Nguyễn Quyền, giám học; cụ án Nghiêm Xuân Quảng,... và một số nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, v.v... Mục đích của phong trào là: khai trí, mở những lớp dạy học không lấy tiền (để đúng với cái tên là nghĩa thục). Dùng chữ quốc ngữ để dạy là lợi khí để khai dân trí, nhưng hợp với chiêu bài “khai hoá” mà người Pháp không có lý do gì cấm.

       Từ buổi đầu cuộc chiếm đóng Nam Kỳ của Pháp đến khi phong trào Duy tân và Ðông Kinh nghĩa thục ra đời, nửa thế kỷ trôi qua, chữ quốc ngữ đã lột xác dưới mắt các sĩ phu Việt Nam. Chữ quốc ngữ trước kia bị xem như một toan tính của chính quyền thuộc địa hòng Âu hóa nền quốc học Việt Nam, và được xem như một thứ chữ rẻ tiền dưới con mắt của các sĩ phu thì bây giờ chữ quốc ngữ được đón tiếp như một công cụ chuyển tải hữu hiệu những tư tưởng yêu nước, những tri thức mới.

       Chữ quốc ngữ đã dần thay thế chữ Hán và nền giáo dục mới cũng dần thay thế nền giáo dục khoa cử đã tồn tại cả ngàn năm. Thắng lợi này được thể hiện rõ nét trong bài diễn văn của đại úy Jules Roux đọc ở Toà Ðốc lý quận 6 Paris, ngày 6–7–1912 nhan đề là: Cuộc thắng lợi vĩnh viễn của phương thức ghi tiếng Annam bằng con chữ latin hay “Quốc ngữ”[60]:

“Phần tôi, tôi không thù ghét gì chữ Hán nhưng thứ chữ này đối với Quốc ngữ trong 30, 40 năm tới đây sẽ giống như tiếng Latin đã trở thành đối với tiếng Pháp như ngày nay... [...] “Việc giảng dạy Quốc ngữ đã toả lan với một tốc độ chóng mặt...” [...] “Chính là thông qua Quốc ngữ mà dân An Nam gắn bó với nền văn minh Pháp và chính cũng qua Quốc ngữ mà chúng ta xáp lại gần với dân tộc này...”

65.4. Sự bùng nổ của báo chí Bắc Kỳ

       Năm 1907, các nhà Duy tân trong Đông Kinh nghĩa thục sử dụng tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, sau này đổi thành Đăng cổ tùng báo in bằng hai thứ chữ: chữ Hán do Đào Nguyên Phổ phụ trách và chữ quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách.

       Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh điều hành ra số đầu tiên ngày 15 tháng 5 năm 1913, với phương châm “phổ biến văn hoá Tây phương, cổ động học chữ quốc ngữ, giới thiệu kiến thức thực nghiệm như canh nông, công nghệ...”[61]. Có thể nói Nguyễn Văn Vĩnh là người có công rất lớn trong việc truyền bá, cổ vũ cho chữ quốc ngữ. Ông và những cộng sự trong Đông Dương tạp chí nhận thấy chữ quốc ngữ là một lợi khí, một phương tiện để mở mang, nâng cao dân khí và chấn hưng nền văn hoá dân tộc nên đã tích cực viết nhiều về vấn đề này, tiêu biểu như: Chữ quốc ngữ, Cách viết chữ quốc ngữ, Chữ nho nên để hay nên bỏ, Tiếng Annam,... Qua đó, Nguyễn Văn Vĩnh phân tích, lý giải để khẳng định, đối với nhân dân Việt Nam, cần thiết phải sử dụng chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm.

       Sự nghiệp báo chí vẻ vang của Nguyễn Văn Vĩnh thể hiện qua hàng trăm bài viết của ông bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ, ngoài ra ông còn dịch văn chương Pháp ra chữ quốc ngữ và chuyển thể những tác phẩm văn chương đặc sắc của Việt Nam qua tiếng Pháp.

       Tiếp theo thành công của Đông Dương tạp chí, năm 1917 Nam Phong tạp chí cũng ấn hành số đầu tiên do Louis Marty, thanh tra mật thám Đông Dương sáng lập. Trong đó, Phạm Quỳnh phụ trách về phần chữ quốc ngữ, Nguyễn Bá Trạc chịu trách nhiệm về phần chữ Hán.

       Phạm Quỳnh không khoan nhượng trước một bộ phận người Việt Nam có tư tưởng xem thường chữ quốc ngữ, coi chữ quốc ngữ là thứ chữ không đáng học, không thể bằng chữ Pháp:

“Chữ quốc ngữ được thí nghiệm trong ba trăm năm được tiện lợi như thế, vậy mà còn có người bài bác, bao phen vận động muốn sửa đổi lại. Những nhà muốn cải cách ấy chỉ có câu nệ rằng trong chữ quốc ngữ có nhiều vần không hợp với tiếng Pháp: nhưng tiếng Pháp là tiếng Pháp, Quốc ngữ là Quốc ngữ”[62].

       Ông nhấn mạnh:

“Ngày nay chữ quốc ngữ đã nghiễm nhiên thành thứ chữ viết, cái văn tự chung của dân tộc Việt Nam vậy. Học vừa dễ vừa mau, dùng vừa hay vừa tiện, thật là một cái lợi khí để truyền bá sự học trong quốc dân. Nay chúng ta được dùng cái chữ thần diệu đó”[63].

        Chúng ta còn chứng kiến sự bùng nổ của chữ quốc ngữ trong việc sáng tác tiểu thuyết, văn xuôi, thơ ca với sự ra đời của nhóm Tự lực Văn đoàn năm 1933, phong trào Thơ Mới những năm 1930...

       Như vậy từ một lối viết do các linh mục khởi xướng, chữ quốc ngữ đã trở thành chữ viết chính thức của người Việt.

7. Liệu chữ quốc ngữ đã là lối viết tối ưu cho tiếng Việt?

       Việt Nam không phải là nước duy nhất phải đi vay mượn chữ viết. Chúng ta biết rằng chữ viết của Nhật Bản, Hàn Quốc cũng bị ảnh hưởng của chữ Hán. Còn khi chúng ta nói đến ngữ hệ Latin, tức là chúng ta nói đến nhóm các ngôn ngữ sử dụng ký tự Latin để tạo nên chữ viết của họ. Lẽ dĩ nhiên trong quá trình vay mượn chữ viết này, con chữ Latin cũng bị thay đổi cho phù hợp với ngôn ngữ của từng nước như chữ Pháp, chữ Anh, chữ Ý, chữ Bồ Đào Nha. Và ngay cả lối viết của các dân tộc này cũng có những bất cập nhất định, ví dụ trong tiếng Pháp âm [ɛ] được thấy trong nhiều cách ghi: mère (mẹ), maire (lý trưởng, đốc lý), mer (biển), mais (nhưng mà).

       Chữ viết khác với lời nói, mặc dù cả hai đều được dùng để chuyển tải thông tin, lời nói chuyển tải thông tin bằng âm thanh, chữ viết chuyển tải bằng ký hiệu và được nhận dạng bằng mắt. Khi chúng ta luyện cho trẻ em cách đọc, cách viết một loại chữ viết, và dạy cho chúng quy tắc xếp vần thì hiển nhiên chúng ta có thể nhận biết được chữ viết đó sau vài tháng. Còn vấn đề đồng âm thì không thể tránh khỏi, ngay cả với các chữ viết thuộc ngữ hệ Latin như Anh, Pháp.

       Bù lại, chữ quốc ngữ đưa Việt Nam vào cộng đồng ngữ hệ Latin, giúp chúng ta dễ tiếp cận hơn với các loại chữ viết khác trong cùng ngữ hệ. Hơn nữa hệ thống âm đầu và vần phong phú của tiếng Việt giúp chúng ta học ngoại ngữ dễ dàng hơn rất nhiều so với các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

       Cũng như vậy với nền giáo dục của Pháp, họ cũng đang có dự án xóa bỏ việc dạy tiếng Latin trong trường học. Và các chuyên gia giáo dục[64] cảnh báo rằng sau này học trò Pháp chỉ hiểu vỏ nghĩa của từ mà không hiểu nguồn gốc của từ đó. Lịch sử vẫn luôn lặp lại những sai lầm đáng tiếc như vậy vì luôn có những người “quá nhiệt tình với cải cách” giữ trọng trách trong bộ máy giáo dục.

       Chỉ có một điều cần suy nghĩ, ấy là chúng ta xóa bỏ việc dạy chữ Hán trong nhà trường. Trong khi lượng từ Hán–Việt chiếm đến 70% từ vựng của chúng ta sau 1000 năm Bắc thuộc, ấy thế mà chúng ta lại hoàn toàn thiếu hiểu biết trước lớp nghĩa Hán–Việt, đó chẳng là điều đáng tiếc lắm sao? Người Việt không thể giỏi tiếng Việt nếu không được trang bị những hiểu biết để hiểu được nghĩa Hán–Việt.

       Công việc của các nhà giáo dục là tìm ra cách học tối ưu cho con em của cả dân tộc. Chữ quốc ngữ sẽ là công cụ không thể thiếu trong nền giáo dục quốc dân ở giai đoạn Phổ thông cơ sở – bậc học chín năm trang bị những điều không thể thiếu, những điều không thể không có, hành trang bắt buộc cho mỗi thanh thiếu niên vào đời. Ở giai đoạn này, chính các nhà sư phạm sẽ phải tìm cách tổ chức việc học từ ngữ Hán Việt hoàn toàn dưới dạng chữ quốc ngữ.

       Đó là điều còn bỏ ngỏ cho cả những nhà sư phạm cũng như của những học trò của họ.

Đề tài viết tiểu luận cho hội thảo về chữ quốc ngữ
  1. Bạn nghĩ gì về các giáo sĩ đi truyền giáo và xây dựng bộ chữ quốc ngữ?
  2. Bạn nghĩ gì về phương pháp ghi tiếng Việt của các giáo sĩ?
  3. Bạn nghĩ gì về nguyên tắc ghi âm nói thế nào – nghe thế nào – ghi thế ấy. Cách ghi này lợi gì?
  4. Cách thực hiện nguyên tắc ghi âm của các cha đã tạo ra những nhược điểm gì cho chữ quốc ngữ?
  5. Học chữ quốc ngữ bao lâu thì đọc và viết được?
  6. Bạn hãy giới thiệu và nhận xét quan điểm của người ủng hộ việc phổ cập chữ quốc ngữ.
  7. Bạn hãy giới thiệu và nhận xét quan điểm của người chống lại việc phổ cập chữ quốc ngữ.
  8. Có thể dùng chữ quốc ngữ học từ Hán–Việt không?
  9. Bạn hãy viết một kiến nghị cải tiến luật chính tả. Gợi ý:

(a)   Viết chữ z thay cho các cách ghi âm đầu một tiếng bằng d, gi và r.

(b)  Viết chữ k thay cho các cách ghi âm đầu một tiếng bằng c, k và q.

  1. Bạn hãy viết bài phản biện lại kiến nghị trên, cho thấy sự “thay đổi” đó là không hợp lý.

 



[1] Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, tr.9.

[2] Vùng đất nằm ở phía Tây Nam Ấn Độ vốn là thuộc địa của Bồ Đào Nha.

[3] Trong lá thư Cha Freiras gửi cho Bungo ngày 14/10/1564, ông khẳng định cuốn ngữ pháp và từ điển đầu tiên bằng tiếng Nhật do F. Duarte da Silva viết (nguồn: Cartas, t I.f.156v).

[4] Giám tỉnh Dòng Tên Nhật Bản bao gồm Nhật Bản, Macao, Trung Quốc, Đàng Trong, Đàng Ngoài, Campuchia, Thái Lan.

[5] Francesco Buzomi (người Ý), Diogo Carvalho, và Antonio Dias (người Bồ).

[6] Christofoto Borri, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine (traduite de l’italien), (“Tình hình đợt truyền giáo mới của đoàn truyền giáo Dòng Tên tại Vương quốc Đàng Trong”, Rome, 1631, tr.101.

[7] Theo Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, tr.59 thì khi đó Dòng Tên không dùng từ

tu viện, đan viện mà là cơ sở, hoặc chữ nhà mang màu sắc dân sự.

[8] Hiện nay mảnh đất này chính là Nhà Thờ Hội An nằm trên đường Nguyễn Trường Tộ.

[9] Borri, sđd, tr.101.

[10] Sinh tại Avignon năm 1593 nhưng ở thời kỳ đó, Avignon là đất của Tòa Thánh La Mã không phải là đất của Pháp.

[11] Alexandre de Rhodes, Từ điển Việt–Bồ–La, Nhà xuất bản khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh, 1991

(Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính dịch).

[12] Rhodes, Divers voyages et missions du Père Alexandre de Rhodes en Chine et autres royaumes de l’Orient, (“Hành trình và truyền giáo của Cha Alexandre de Rhodes sang Trung Hoa và các vương quốc phương Đông khác”), Paris, 1653, tr.72.

[13] Joseph Tissanier, Relation du voyage du P. Joseph Tissanier de la Compagnie de Jésus. Depuis la France, jusqu’au Royaume de Tunquin, avec ce qui s’est passé de plus mémorable dans cette Mission, durant les années 1658, 1659 et 1660, (“Hành trìnhcủa Cha J. Tissanier thuộc Dòng Tên. Giai đoạn từ khi rời Pháp qua vương quốc Đàng Ngoài ghi lại những gì đáng nhớ hơn cả trong cuộc truyền giáo những năm 1658, 1659 và 1660 này”, Paris, 1663, tr.200.

[14] Borri, sđd, tr.78.

[15] Rhodes, Divers voyages et missions, sđd, tr.73.

[16] Rhodes, sđd, tr.72.

[17] João Roiz, Annua de Cochinchina do anno de 1620, pera N.Muv Dro em Christo Pe Mutio Vitelleschi Preposito Geral da Compa de Jesu, ARSI, JS.72, f.2–16. (Bản tường trình ở Đàng Trong năm 1620, gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi– Bề Trên cả Dòng Tên ở La Mã).

[18] Christofoto Borri, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume

de la Cochinchine (traduite de l’italien), Rome, 1631. Cuốn sách được in năm 1631 nhưng Borri viết nó năm 1621.

[19] Gaspar Louis, Cocincinae Missionis annuae Litterae, annui 1625, ARSI, JS 71, f.56r–71r (Bản tường trình năm 1625 ở Đàng Trong).

[20] Antonio de FONTES, Annua da missao de Anam, a que vulgarmte chamão Cochinchina; pa ver No Muj Rdo de Geral Mutio Vitelleschi, ARSI, JS.72, f.69–86r. (Bản tường trình tình hình truyền giáo ở Đàng Trong gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi– Bề Trên cả Dòng Tên ở La Mã).

[21] Gaspar de Amaral người Bồ Đào Nha sinh năm 1592 tới Đàng Ngoài lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1629. Dẫn lại văn bản trong cuốn Lịch sử chữ quốc ngữ 1620–1659 của Đỗ Quang Chính.

[22] Bản gốc in bằng tiếng Latin, tôi dựa vào bản dịch sang tiếng Pháp: Histoire du Royaume du Tonkin, 1651, tr.109.

[23] Biblioteca de Ajuda, Jésuistas Na Asia, 49/V/31 ”annua de 1634 do Reyno de Annam” f.308 (“Năm 1634 của vua xứ Annam”.

[24] Thuộc tỉnh Nghệ An hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn đang tranh cãi về vị trí chính xác của Cửa Rum, có hai giả thuyết: Cửa Rum là cửa Hội hiện nay và Cửa Rum là Cầu Rầm.

[25] Isabel Tavares Mourão, 2012, “Gaspar de Amaral au Tunkim, quelques remarques de la pédago- gie missionnaire au XVIIème siècle” (“Gaspar de Amaral ở Đàng Ngoài, vài nhận xét về phương pháp sư phạm của các nhà truyền giáo”), in trong Pédagogies missionnaires, Editions Karthala.

[26] Sinh năm 1585 tại Bồ Đào Nha, đến Đàng Trong năm 1617 và chết đuối ở Quảng Nam tháng 12/1625.

[27] Hiện ở Thư viện Vatican (fondo Barberini, vol. 158 (mss orient)) còn giữ lá thư viết trên giấy bạc của Chúa Trịnh viết bằng chữ Hán cho Palmeiro năm 1627 để cảm ơn Palmeiro đã gửi quà biếu và đồng thời cảm ơn Palmeiro gửi các giáo sĩ đến truyền giáo.

[28] Đỗ Quang Chính, 2008, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, tr.46.

[29] Rhodes, Divers voyages et missions, tr.73 (Rhodes, Các chuyến đi và sứ mệnh).

[30] ARSI, Jap/sin. 80, f.76r–80v.

[31] ARSI, JAP/SIN. 81, f 248– 259v.

[32] Rhodes, sđd, tr.269.

[33] Rhodes, sđd.

[34] Tiểu sử của Pigneaux de Béhaine được M.E.P (Hội Thừa sai Paris) ghi lại.

[35] Hậu duệ của nhà Minh, sau khi nhà Thanh lật đổ nhà Minh, rất nhiều con cháu nhà Minh không thuần phục nhà Thanh bèn chạy xuống phương Nam.

[36] Theo sử liệu của Hội Thừa sai Paris – Phần cuộc đời của Pigneaux de Béhaine.

[37] Trang 1, nguyên văn tiếng Pháp như sau: La langue vulgaire parlée dans le royaume d’Annam est un dialecte chinois.

[38] Trần Trí Dõi, Giáo trình lịch sử tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

[39] Từ điển Việt–Bồ–La, phần ngữ pháp, tr.10.

[40] Chúng ta nhớ rằng các giáo sĩ đến Quảng Nam trước tiên, và người thầy đầu tiên của các giáo sĩ là Francisco de Pina đã dựa vào tiếng Quảng Nam để thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt.

[41] Isabel Tavares Mourão, “Gaspar do Amaral au Tun Kim”, Pédagogies missionnaires, traduire, transmettre, transculturer, 2007. (Công cuộc dạy dỗ của các nhà truyền giáo, dịch thuật, truyền đạt, chuyển giao văn hóa).

[42] Theo Nguyễn Phú Phong, Việt Nam, chữ viết, ngôn ngữ và xã hội.

[43] Ngày 31/3/1863, đô đốc Bonard ra quyết định tái lập hình thức giáo dục cũ như thời nhà Nguyễn.

[44] Huỳnh Ái Tông, Báo chí và nhà văn quốc ngữ thời sơ khởi, tr.13.

[45] Quyết định số 189 ngày 16–5–1869, do Thống đốc Nam Kỳ Ohier ký, theo Huỳnh Ái Tông, Báo chí và nhà văn quốc ngữ thời sơ khởi, tr.12.

[46] Nguyễn Phú Phong, 2005, Việt Nam, chữ viết, ngôn ngữ và xã hội, tr.64.

[47] Phạm Quỳnh (1927), “Khảo về chữ quốc ngữ”, Nam Phong tạp chí.

[48] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại.

[49] Phần này tôi lược lại các ý kiến đã được in trong cuốn: Việt Nam, chữ viết, ngôn ngữ và xã hội của Nguyễn Phú Phong.

[50] Luro, Cours d’administrationannamite, Saigon, 1905, cours No 38 viết cuối năm 1873 (Giáo trình hành chính áp dụng ở xứ An–nam).

[51] Công sứ Pháp tại Bình Thuận, giám đốc trường thuộc địa, thành viên của Hội đồng Quản trị Hội Pháp văn Liên hiệp (Alliance Francaise).

[52] Bài phát biểu năm 1886 và 1890.

[53] Hiệu trưởng Trung học Chasseloup–Laubat ở Sài Gòn, phó chủ tịch của Hội nghiên cứu Đông Dương (Société des Etudes Indochinoises).

[54] Bài viết năm1890, tựa là Le Francais, le quốc–ngữ et l’enseignement public en Indochine. Réponse à M. Aymonier (Tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và giáo dục quần chúng ở Đông Dương. Trả lời ông Aymonier).

[55] Ngày 25/4/1882.

[56] Nam Phong, số 50, 1921, tr.167.

[57] Trần Quý Cáp (1871–1908) quê huyện Ðiện Bàn, Quảng Nam, đậu tiến sĩ năm 1904.

[58] Phan Châu Trinh (1872–1926) quê huyện Tiên Phước, Quảng Nam, đậu phó bảng năm 1901.

[59] Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947), quê huyện Tiên Phước, Quảng Nam, đậu tiến sĩ năm 1904.

[60] Le triomphe définitif en Indochine du mode de transcription de la langue annamite à l’aide des ca- ractères romains ou ”Quốc ngữ” (Chiến thắng hoàn toàn của cách ghi âm tiếng An–nam bằng những con chữ Latin, còn gọi là “Quốc ngữ”).

[61] Nguyễn Văn Vĩnh (1913), Đông Dương tạp chí.

[62] Phạm Quỳnh (1927), “Khảo về chữ quốc ngữ”, Nam Phong tạp chí.

[63] Theo Nguyễn Đức Thuận (2008), Văn trên Nam Phong tạp chí – Diện mạo và thành tựu, Nxb Văn học.

[64] Theo Giáo sư Marc Furoli, đại diện cho các viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp.

       

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự