Tài liệu

Bảo vệ chống chạm đất trong cuộn dây Stator

BẢO VỆ CHỐNG CHẠM ĐẤT TRONG CUỘN DÂY STATOR (50/51N)

Mạng điện áp máy phát thường làm việc với trung tính cách điện với đất hoặc nối đất qua cuộn dập hồ quang nên dòng chạm đất không lớn lắm. Tuy vậy, sự cố một điểm cuộn dây stator chạm lõi từ lại thường xảy ra, dẫn đến đốt cháy cách điện cuộn dây và lan rộng ra các cuộn dây bên cạnh gây ngắn mạch nhiều pha.Vì vậy, cần phải đặt bảo vệ chống chạm đất một điểm cuộn dây stator.

Dòng điện tại chỗ chạm đất khi trung điểm của cuộn dây máy phát không nối đất là:

IĐα(1)=α.Upr2+XC0Σ2 size 12{I rSub { size 8{Đα} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } = { {α "." U rSub { size 8{p} } } over { sqrt {r rSub { size 8{"qđ"} } rSup { size 8{2} } +X rSub { size 8{C rSub { size 6{0} } Σ} } rSup {2} } } } } {} (1-33)

Trong đó:

  • α: số phần trăm cuộn dây tính từ trung điểm đến vị trí chạm đất (α ≤ 1).
  • Up: điện áp pha của máy phát.
  • rqđ: điện trở quá độ tại chỗ sự cố.
  • XC0Σ size 12{X rSub { size 8{C rSub { size 6{0} } Σ} } } {}: dung kháng 3 pha đẳng trị của tất cả các phần tử trong mạng điện áp

máy phát. XC0Σ=13.j.ω.C0 size 12{X rSub { size 8{C rSub { size 6{0} } Σ} } size 12{ {}= { {1} over {3 "." j "." ω "." C rSub {0 sum } } } }} {}

Nếu bỏ qua điện trở quá độ tại chỗ sự cố (rqđ = 0), dòng chạm đất bằng:

IĐα(1) size 12{I rSub { size 8{Đα} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}= 3.α.ω.C0Σ.Up (1-34)

Khi chạm đất xảy ra tại đầu cực máy phát (α = 1) dòng chạm đất đạt trị số lớn nhất:

IĐαmax(1) size 12{I rSub { size 8{Đα"max"} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}= 3.ω.C0Σ.Up (1-35)

Nếu dòng chạm đất lớn cần phải đặt cuộn dập hồ quang (CDHQ), theo quy định của một số nước, CDHQ cần phải đặt khi:

IĐαmax(1) size 12{I rSub { size 8{Đα"max"} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}≥ 30 A đối với mạng có U = 6 kV

IĐαmax(1) size 12{I rSub { size 8{Đα"max"} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}≥ 20 A đối với mạng có U = 10 kV

IĐαmax(1) size 12{I rSub { size 8{Đα"max"} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}≥ 15 A đối với mạng có U = (15 ÷ 20) kV

IĐαmax(1) size 12{I rSub { size 8{Đα"max"} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}≥ 10 A đối với mạng có U = 35 kV

Kinh nghiệm cho thấy rằng dòng điện chạm đất IĐαmax(1) size 12{I rSub { size 8{Đα"max"} } rSup { size 8{ \( 1 \) } } } {}≥ 5A có khả năng duy trì tia lửa điện tại chỗ chạm đất làm hỏng cuộn dây và lõi thép tại chỗ sự cố, vì vậy bảo vệ cần phải tác động cắt máy phát. Phần lớn sự cố cuộn dây stator là chạm đất một pha vì các cuộn dây cách điện nằm trong các rãnh lõi thép. Để giới hạn dòng chạm đất trung tính máy phát thường nối đất qua một tổng trở. Các phương pháp nối đất trung tính được trình bày trong hình 1.10.

Nếu tổng trở trung tính đủ lớn dòng chạm đất có thể giới hạn nhỏ hơn dòng điện định mức máy phát. Không có công thức tổng quát nào cho giá trị tối ưu của tổng trở giới hạn dòng. Nếu tổng trở trung tính quá cao, dòng chạm đất bé làm cho rơle không tác động. Ngoài ra điện trở quá lớn sẽ xuất hiện hiện tượng cộng hưởng quá độ giữa các cuộn dây với đất và đường dây kết nối. Để tránh hiện tượng này khi tính chọn điện trở trung tính cực đại dựa vào dung dẫn giữa 3 cuộn dây stator máy phát, thường yêu cầu: R ≤ 13ωC size 12{ { {1} over {3ωC} } } {} ( Ω size 12{ %OMEGA } {}) (1-36)

với C là điện dung của mỗi cuộn dây stator máy phát.

Nếu điện trở trung tính thấp, dòng điện chạm đất sẽ cao và sẽ gây nguy hiểm cho máy phát. Khi điện trở trung tính giảm độ nhạy của rơle chống chạm đất giảm do điện thế thứ tự không nhỏ. Rơle chống chạm đất sẽ cảm nhận điện thế giáng trên điện trở nối đất do vậy giá trị điện thế này phải đủ lớn để đảm bảo độ nhạy của rơle.

Hình 1.10giới thiệu một số phương án áp dụng nối đất trung tính máy phát.

  • Phương án a: Trung tính nối đất qua điện trở cao Rt (hình1.10a) để giới hạn dòng chạm đất nhỏ hơn 25A. Một phương án khác cũng nối đất qua điện trở thấp cho phép dòng chạm đất có thể đạt đến 1500A.
  • Phương án b: Trung tính nối đất qua điện kháng có kháng trở bé (hình 1.10b), với phương án này cho phép dòng chạm đất lớn hơn khi dùng phương án a, giá trị dòng chạm đất khoảng (25÷100)% dòng ngắn mạch 3 pha.
  • Phương án c: Trung tính nối đất qua máy biến áp BA hình 1.10c, điện áp của cuộn sơ MBA bằng điện áp máy phát, điện áp của cuộn thứ MBA khoảng 120V hay 240V.
  • Đối với sơ đồ có thanh góp cấp điện áp máy phát khi Iđα > 5 (A) cần phải cắt máy phát.
  • Đối với sơ đồ nối bộ MF-MBA thường Iđα < 5 (A) chỉ cần đặt bảo vệ đơn giản hơn để báo tín hiệu chạm đất stator mà không cần cắt máy phát.

Đối với sơ đồ thanh góp điện áp máy phát:

Sơ đồ hình 1.11 được dùng để bảo vệ cuộn dây stator máy phát khi xảy ra chạm đất. Bảo vệ làm việc theo dòng thứ tự không qua biến dòng thứ tự không 7BI0 có kích từ phụ từ nguồn xoay chiều lấy từ 2BU.

Sơ đồ bảo vệ chống chạm đất 1 điểm cuộn stator MFĐ (Hình 1.11: )

  • 3RI: rơle chống chạm đất 2 pha tại hai điểm khi dùng bảo vệ so lệch dọc đặt ở 2 pha (sơ đồ sao khuyết).
  • 4RI: rơle chống chạm đất 1 pha cuộn dây stator.
  • 5RG: khoá bảo vệ khi ngắn mạch ngoài.
  • 6RT: tạo thời gian làm việc cần thiết để bảo vệ không tác động đối với những giá trị quá độ của dòng điện dung đi qua máy phát khi chạm đất 1 pha trong mạng điện áp máy phát.
  • Rth: rơle báo tín hiệu.

Nguyên lý hoạt động:

  • Tình trạng làm việc bình thường, dòng điện qua rơle 3RI, 4RI:

I.R=1nI(I.A+I.B+I.C)=1nII.KCBtt size 12{ {I} cSup { size 8{ "." } } rSub { size 8{R} } = { {1} over {n rSub { size 8{I} } } } \( {I} cSup { size 8{ "." } } rSub { size 8{A} } + {I} cSup { size 8{ "." } } rSub { size 8{B} } + {I} cSup { size 8{ "." } } rSub { size 8{C} } \) = { {1} over {n rSub { size 8{I} } } } {I} cSup { size 8{ "." } } rSub { size 8{ ital "KCBtt"} } } {} (1-37)

Dòng điện không cân bằng do các pha phía sơ cấp của 7BI0 đặt không đối xứng với cuộn thứ cấp và do thành phần kích từ phụ gây nên. Dòng điện khởi động của rơle cần phải chọn lớn hơn dòng điện không cân bằng trong tình trạng bình thường này:

IKĐR >IKCBtt

  • Khi xảy ra chạm đất 1 pha trong vùng bảo vệ:

Dòng qua chỗ chạm đất bằng:

ID = (3.α.ω.C0HT + 3.α.ω.C0F).UpF (1-38)

Trong đó:

  • α: phần số vòng dây bị chọc thủng kể từ điểm trung tính cuộn dây stator.
  • C0F, C0HT: điện dung pha đối với đất của máy phát và hệ thống.
  • UpF: điện áp pha của máy phát.

Dòng điện vào rơle bằng:

ID'=3.ω.α.C0HT.UpF size 12{ { {I}} sup { ' } rSub { size 8{D} } =3 "." ω "." α "." C rSub { size 8{"0HT"} } "." U rSub { size 8{ ital "pF"} } } {} (1-39)

để bảo vệ có thể tác động được cần thực hiện điều kiện:

IKĐB ≤ I'IKCBtt size 12{ { {I}} sup { ' } rSub { size 8{Dα} } - I rSub { size 8{ ital "KCBtt"} } } {} (1-40)

để đơn giản, ta giả thiết dòng chạm đất đi qua bảo vệ và dòng không cân bằng tính toán ngược pha nhau.

Khi số vòng chạm α bé, dòng điện chạm đất I' size 12{ { {I}} sup { ' } rSub { size 8{Dα} } } {} nhỏ và bảo vệ có thể có vùng chết ở gần trung tính máy phát.

  • Khi chạm đất một pha ngoài vùng bảo vệ, dòng điện đi qua bảo vệ:

I''=3.ω.α.C0F.UpF size 12{ { {I}} sup { ' ' } rSub { size 8{Dα} } =3 "." ω "." α "." C rSub { size 8{"0F"} } "." U rSub { size 8{ ital "pF"} } } {} (1-41)

để bảo vệ không tác động trong trường hợp này, dòng khởi động của bảo vệ phải được chọn:

IKĐB>I''+IKCBtt size 12{I rSub { size 8{ ital "KĐB"} } > { {I}} sup { ' ' } rSub { size 8{Dα ital "qđ"} } +I rSub { size 8{ ital "KCBtt"} } } {} (1-42)

Ở đây chúng ta chọn điều kiện nặng nề nhất là khi dòng điện chạm đất qua bảo vệ và dòng không cân bằng có chiều trùng nhau, đồng thời phải chọn giá trị của dòng điện chạm đất bằng giá trị quá độ lớn nhất vì chạm đất thường là không ổn định.

Khi xảy ra chạm đất 2 pha tại hai điểm, trong đó có một điểm nằm trong vùng bảo vệ. Bảo vệ sẽ tác động cắt máy phát nhờ rơle 3RI. Trong trường hợp này rơle 4RI cũng khởi động nhưng tín hiệu từ 4RI bị trễ do 6RT.

Tính chọn Rơle:

* Dòng khởi động của rơle 3RI: Việc xác định dòng không cân bằng đi qua bảo vệ khi ngắn mạch ngoài vùng bảo vệ rất phức tạp vì thế người ta thường chỉnh định với một độ dự trữ khá lớn, theo kinh nghiệm vận hành thường chọn:

IKĐB3RI = (100 ÷ 200) (A) (phía sơ cấp) (1-43)

* Dòng khởi động của rơle 4RI: Dòng khởi động của 4RI được chọn theo 2 điều kiện:

  • Bảo vệ không được tác động khi ngắn mạch ngoài vùng bảo vệ, khi đó:

IKĐB4RI=KatKtv(3ωC0kUpF+IKCBttmax) size 12{I rSub { size 8{ ital "KĐB"4 ital "RI"} } = { {K rSub { size 8{ ital "at"} } } over {K rSub { size 8{ ital "tv"} } } } \( 3ωC rSub { size 8{0} } k rSub { size 8{ ital "qđ"} } U rSub { size 8{ ital "pF"} } +I rSub { size 8{ ital "KCBtt""max"} } \) } {} (A) (phía sơ cấp) (1-44)

  • Theo giá trị dòng điện sơ cấp bé nhất tương ứng với dòng điện khởi động cực tiểu của 4RI (giá trị này phụ thuộc vào cấu tạo và độ nhạy của rơle 4RI). Đối với các rơle thường gặp giá trị này khoảng:

IKĐB4RI = (2 ÷ 3) (A) (phía sơ cấp) (1-45)

Từ hai điều kiện trên chúng ta sẽ chọn được dòng điện lớn hơn làm dòng điện tính toán.

* Thời gian làm việc của rơle 6RT: Để loại trừ ảnh hưởng của những giá trị quá độ của dòng điện dung khi chạm đất một pha trong mạng điện áp máy phát, người ta thường chọn:

t6RT = (1 ÷ 2) sec (1-46)

Đối với sơ đồ nối bộ MF-MBA:

Với sơ đồ nối bộ, khi xảy ra chạm đất một điểm cuộn dây stator dòng chạm đất bé vì vậy bảo vệ chỉ cần báo tín hiệu, ở đây chỉ cần dùng sơ đồ bảo vệ đơn giản, làm việc theo điện áp thứ tự không như hình 1.12.

Giá trị khởi động của RU (UKĐRU) thường chọn theo hai điều kiện sau:

  • Điều kiện1: UKĐRU > UKCBmax
  • Điều kiện2: UKĐRUchọn theo điều kiện ổn định nhiệt của rơle và thường lấy bằng 15V.

Thường chọn theo điều kiện 2 là đã thoả điều kiện 1.

Rơle thời gian dùng để tạo thời gian trễ tránh trường hợp bảo vê tác động nhầm do quá độ sự cố bên ngoài.

tRT = tmax(BV của phần tử kế cận) + Δt. (1-47)

Một số sơ đồ khác:

MFĐ nối với thanh góp điện áp thường có công suất bé và sơ đồ bảo vệ thường dựa trên nguyên lý làm việc theo biên độ hoặc hướng dòng điện chạm đất.

Phương pháp biên độ:

Chạm đất trong cuộn dây stator MFĐ (Hình 1.13)

Phương pháp biên độ thường được sử dụng khi thành phần dòng điện chạm đất từ phía điện dung hệ thống I(1)đαH lớn hơn nhiều so với thành phần chạm đất từ phía điện dung máy phát I(1)đαF nghĩa là:

I(1)đαH >> I(1)đαF với IđαF = 3.j.ω.C.Uα

Vì dòng chạm đất I(1)đα (hình 1.13) phụ thuộc vào vị trí α của điểm chạm đất, nên nếu xảy ra chạm đất gần trung tính (α → 0) bảo vệ sẽ không đủ độ nhạy, vì vậy phương pháp này chỉ bảo vệ được khoảng 70% cuộn dây stator máy phát kể từ đầu cực máy phát.

Ngoài sơ đồ nêu ở phần III.1, sau đây chúng ta sẽ xét thêm một số sơ đồ bảo vệ theo phương pháp biên độ khác sau:

  • Trung tính máy phát nối đất qua điện trở cao Rđ: (hình 1.14a)

Máy biến dòng đặt ở dây nối trung tính MFĐ qua điện trở nối đất Rđ, cuộn thứ cấp nối vào rơle dòng cắt nhanh (có mã số 50N). Trị số dòng điện đặt của rơle lấy bằng 10% giá trị dòng điện chạm đất cực đại ở cấp điện áp máy phát. Đây là trị số đặt nhỏ nhất có tính đến độ an toàn khi thành phần dòng điện thứ tự không từ hệ thống cao áp truyền qua điện dung cuộn dây MBA tới máy phát. Để nâng cao hiệu quả của bảo vệ người ta có thể đặt thêm bảo vệ dòng cực đại (51N) có đặc tính thời gian phụ thuộc có trị số dòng điện đặt khoảng 5% giá trị dòng chạm đất cực đại Iđmax ở cấp điện áp máy phát.

  • Máy phát nối đất trung tính qua MBA: (hình 1.14b)

MBA nối đất đặt ở trung tính máy phát điện, vừa có chức năng như một kháng điện nối đất của máy phát vừa cung cấp nguồn cho bảo vệ. Cuộn thứ cấp của MBA được nối với rơle quá điện áp (59) song song với tải trở Rt nhằm ổn định sự làm việc cho MBA và tạo giá trị điện áp đặt lên rơle quá điện áp. Trị số điện áp đặt khoảng (5,4 ÷ 20) V. Sơ đồ chỉ có thể bảo vệ được khoảng 90% cuộn stator tính từ đầu cực máy phát. Người ta cũng có thể sử dụng phương án hình 1.14c để bảo vệ chống chạm đất cuộn stator máy phát. Cuộn thứ cấp của MBA được mắc thêm tải trở Rt, điện trở này làm tăng thành phần tác dụng chạm đất lên khoảng 10A và trên mạch thứ cấp này đặt biến dòng nối vào rơle dòng cực đại (50N). Giá trị đặt của rơle này khoảng 5% giá trị dòng điện chạm đất cực đại ở cấp điện áp máy phát. Dòng điện thứ cấp của BI chọn 1A còn dòng điện phía sơ cấp của BI chọn bằng hoặc nhỏ hơn dòng điện đi qua cuộn sơ cấp của MBA nối đất.

  • Sơ đồ sử dụng điện áp sóng hài bậc 3: (hình 1.15)

Các sơ đồ bảo vệ mô tả trên không bảo vệ được hoàn toàn cuộn stator máy phát khi xảy ra chạm đất một pha. Với các máy phát công suất lớn hiện đại, yêu cầu phải bảo vệ 100% cuộn dây stator khi xảy ra sự cố trên, nghĩa là bảo vệ phải tác động khi xảy ra chạm đất một pha bất kì vị trí nào cuộn dây stator máy phát. Một trong những phương pháp lựa chọn ở đây là sử dụng điện áp sóng hài bậc ba.

Do tính phi tuyến của mạch từ máy phát nên điện áp cuộn dây stator luôn chứa thành phần sóng hái bậc ba, giá trị của thành phầìn điện áp này phụ thuộc vào trị số điện kháng của thiết bị nối với trung tính máy phát, điện dung với đất của cuộn stator, điện dung nối đất của các dây dẫn, thanh dẫn mạch máy phát và điện dung cuộn dây MBA nối với máy phát điện.

Trong điều kiện vận hành bình thường, nếu đo điện áp sóng hài bậc ba với đất ở các điểm khác nhau trên cuộn dây stator ta có phân bố điện áp như trên hình 1.15b. Ở đây kí hiệu UN, UF là điện áp hài bậc ba khi máy phát không tải và UN, UF khi máy phát đầy tải.

Khi xảy chạm đất ở đầu cực hoặc ở trung tính máy phát, điện áp sóng hài ở đầu cực không chạm đất tăng lên gần gấp hai lần so với chế độ tương ứng trước khi chạm đất (hình 1.15c,d).

Nguyên lý làm việc của sơ đồ bảo vệ là so sánh trị số điện áp hài bậc ba ở trung tính máy phát và trị số điện áp hài bậc ba lấy ở cuộn tam giác hở của 2BU. Rơle le điện áp 2RU nối qua bộ lọc tần số hài bậc ba Lf3 và sẽ tác động khi có chạm đất trong cuộn dây stator.

Như đã phân tích ở phần trước, rơle điện áp 1RU chỉ bảo vệ được khoảng 90% cuộn stator tính từ đầu cực máy phát, ở đây rơle 2RU cũng bảo vệ được khoảng (70 ÷ 80) % cuộn stator tính từ điểm trung tính. Như vậy sự phối hợp làm việc giữa 1RU và 2RU có thể bảo vệ được toàn bộ cuộn stator máy phát khi xảy ra chạm đất một pha.

Các tổng trở Z1, Z2 được chọn sao cho ở chế độ làm việc bình thường điện áp đặt lên 2RU bằng không, khi xảy ra chạm đất cuộn stator điện áp đặt lên rơle sẽ lớn hơn nhiều so với điện áp đặt của 2RU.

Phương pháp hướng dòng điện chạm đất: (hình1.16)

Phương pháp hướng dòng điện chạm đất có thể mở rộng vùng bảo vệ chống chạm đất khoảng 90% cuộn dây kể từ đầu cực máy phát.

Bảo vệ có hướng chống chạm đất cuộn dây stator thanh góp điện áp MFĐ a) sơ đồ nguyên lý b) đồ thị véctơ (Hình 1.16 )

Rơle so sánh tương quan giữa dòng điện làm việc ILV và dòng điện hãm IH theo quan hệ :

ΔI = IH - ILV (1-48)

Trong đó:

IH= IU+ I1Đ (1-49a)

ILV= IU- I1Đ (1-49b)

Với IU là dòng điện lấy từ nguồn điện áp U0; I˙D1 size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{D} } rSup { size 8{1} } } {}lấy từ bộ lọc dòng thứ tự không.

Từ đồ thị véctơ hình 1.16b ta có thể thấy rằng, điều kiện làm việc của bảo vệ được xác định theo dấu của ΔI, bảo vệ sẽ tác động cắt MC khi ΔI > 0, nghĩa là IH>ILV điềunày được thoả mãn nếu chạm đất xảy ra trong vùng bảo vệ. Đường K-L trên đồ thị véctơ hình 1.16b là ranh giới giữa miền tác động và miền hãm của bảo vệ.

Nếu chuyển mạch khoá K (hình 1.16a) đấu vào điện áp U0 qua điện trở R1 thay cho tụ điện C1 thì sơ đồ có thể sử dụng để bảo vệ cho các máy phát có trung tính nối đất qua điện trở lớn. Khi ấy thành phần tác dụng của dòng điện tác dụng sẽ được so sánh với thành phần phản kháng của dòng điện khi trung điểm cuộn dây máy phát không nối đất.

Nếu thành phần tác dụng và thành phần phản kháng của dòng điện chạm đất gần bằng nhau, người ta sử dụng sơ đồ có tên gọi là sơ đồ 450 khi ấy khoá K sẽ chuyển sang mạch R2, C2 với thông số được lựa chọn thích hợp.

Một phương án khác để thực hiện bảo vệ chống chạm đất cuộn dây stator máy phát có trung tính không nối đất hoặc nối đất qua điện trở lớn làm việc trực tiếp với thanh góp điện áp máy phát trình bày trên hình 1.17.

Trong phương án này người ta sử dụng thiết bị tạo thêm tải thứ tự không. Tải này được đưa vào làm việc khi phát hiện có chạm đất và làm tăng thành phần tác dụng của dòng điện sự cố lên khoảng 10A, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định hướng dòng điện. Thiết bị tạo thêm tải bao gồm BI0N đấu vào trung tính của máy phát, tải R của BI này được đóng mở bằng tiếp điểm của rơle điện áp RU0. Khi có chạm đất, điện áp U0 xuất hiện, RU0 đóng tức thời tiếp điểm của mình và duy trì một khoảng thời gian t2 đủ cho sơ đồ làm việc chắc chắn.

Tỉ số biến đổi của BIG trong mạch thiết bị tạo thêm tải được chọn sao cho thành phần tác dụng của dòng điện đưa vào bộ so sánh pha α đủ để xác định đúng hướng sự cố. Hình 1.17b,c trình bày sơ đồ nguyên lý và đồ thị véctơ để xác định hướng sự cố khi chạm đất xảy ra bên trong (hình 1.17b) và bên ngoài (hình 1.17c) cuộn dây stator máy phát.

Khi chạm đất ngoài vùng bảo vệ, dòng điện tổng IΣ size 12{I rSub { size 8{Σ} } } {} đưa vào bộ so sánh pha:

IΣ size 12{I rSub { size 8{Σ} } } {} = IA- I(1)D (1-50)

Trong đó:

  • IA dòng điện được tạo nên bởi thiết bị tạo thêm tải.
  • I(1)D dòng điện chạm đất chạy qua bảo vệ.

Trong trường hợp này góc pha α giữa điện áp thứ tự không U0 và dòng điện tổng IΣ size 12{I rSub { size 8{Σ} } } {} vượt qua trị số góc làm việc giới hạn nên sẽ không có tín hiệu cắt .

Khi chạm đất trong cuộn dây stator MFĐ ta có:

IΣ size 12{I rSub { size 8{Σ} } } {} = IA+ I(1)D

và góc pha α giữa điện áp thứ tự không U0 và dòng điện tổng IΣ size 12{I rSub { size 8{Σ} } } {} nằm trong miền tác động của bảo vệ. Rơle tác động cắt với thời gian t1.

Sơ đồ bảo vệ chống chạm đất cuộn dây stator MFĐ có thiết bị tạo thêm tải (a) đồ thị véctơ khi có chạm đất ngoài (b) và trong (c) vùng bảo vệ. (Hinh 1.17)

Sơ đồ ở hình 1.17có thể bảo vệ được 90% cuộn dây. Khi chạm đất trong vùng 10% còn lại (gần trung điểm) bảo vệ không đủ độ nhạy. Tuy nhiên, do điện áp ở phần này của cuộn dây không lớn (không vượt quá 10% Up) nên xác xuất xảy ra hỏng hóc về điện (chẳng hạn do cách điện bị đánh thủng) rất thấp nên ở các máy phát công suất bé người ta thường không đòi hỏi bảo vệ toàn bộ cuộn dây.

Đối với các MFĐ nối bộ với MBA, thông thường cuộn dây MBA phía máy phát đấu tam giác nên chạm đất ở phía cáo áp dòng thứ tự không không ảnh hưởng đến MFĐ.

Với các điểm chạm đất xảy ra trong mạng cấp điện áp máy phát có thể phát hiện bằng sự xuất hiện U0 ở đầu cực tam giác hở của BU đặt ở đầu cực MFĐ, hoặc đầu ra của MBA đấu với trung điểm của MFĐ.

Với các MFĐ công suất lớn, người ta yêu cầu phải bảo vệ 100% cuộn dây stator chống chạm đất để ngăn ngừa khả năng chạm đất ở vùng gần trung điểm của cuộn dây do các nguyên nhân cơ học .

Ngày nay để bảo vệ 100% cuộn dây stator chống chạm đất, người ta thường dùng hai phương pháp sau đây:

  • Theo dõi sự biến thiên của hài bậc ba của sóng điện áp ở trung điểm và đầu cực MFĐ.
  • Đưa thêm một điện áp hãm tần số thấp vào trung điểm của cuộn dây MFĐ.

* Phương theo dõi sự biến thiên của sóng hài bậc ba (xem mục III.3.1) có một số nhược điểm:

  • Khi chạm đất ở vùng gần giữa cuộn dây, bảo vệ có thể không làm việc vì thành phần sóng hài bậc ba trong điện áp quá bé.
  • Điện áp Uab đặt vào rơle sẽ suy giảm khi điện trở chỗ sự cố lớn.
  • Sơ đồ không phát hiện được chạm đất khi MFĐ không làm việc.Trong một số MFĐ, thành hài bậc ba không đủ lớn để bảo vệ có thể phát hiện được.

Để khắc phục những nhược điểm này người ta dùng phương pháp đưa thêm một điện áp hãm tần số thấp vào mạch trung tính của MFĐ.

* Phương pháp đưa thêm một điện áp hãm tần số thấp vào trung điểm của cuộn dây MFĐ (hình 1.18):

- Dòng điện I từ nguồn 20Hz sau khi qua bộ lọc 1LF được phân thành hai thành phần IĐ chạy qua BU0 nối với trung tính MFĐ và IB chạy qua điện trở đặt RB. Thành phần IĐ thông qua biến dòng trung gian BIG và bộ lọc tần số 2LF được nắn thành dòng điện làm việc.

- ILV đưa vào rơle để so sánh với dòng điện hãm IH cũng do nguồn 20Hz tạo nên thông qua điện trở đặt Rc, dòng điện hãm có trị số không đổi. Ở chế độ làm việc bình thường (RĐ= ∞) dòng điện IĐ được xác định theo điện dung của cuộn dây đối với đất CĐ nên có trị số bé do đó ILV < IH và rơle sẽ không tác động.

  • Khi có chạm đất, dòng IĐ được xác định chủ yếu theo điện trở chạm đất RĐ , ILV>IH rơle sẽ tác động cắt máy phát.
  • Các bộ lọc tần số 1LF, 2LF đảm bảo cho sơ đồ chỉ làm việc với thành phần 20Hz, ngoài ra bộ lọc 1LF bảo vệ cho máy phát 20Hz khỏi bị quá tải bởi dòng điện công nghiệp khi có chạm đất xảy ra ở đầu cực MFĐ.

Một phương án khác để thực hiện bảo vệ 100% cuộn dây stator chống chạm đất là dùng nguồn phụ 12,5Hz (với tần số công nghiệp là 60Hz người ta dùng 15Hz) có tín hiệu được mã hóa để đưa vào mạch sơ cấp thông qua BU0 đấu vào mạch trung tính của MFĐ (hình 1.19a).

Trong chế độ làm việc bình thươöng, dòng điện IĐ’ chạy qua điểm trung tính MFĐ được xác định theo trị số điện dung đẳng trị của MFĐ là CĐ(hình 1.19b).

Khi xảy ra chạm đất, điện trở chạm đất RĐ được ghép song song với CĐ làm tăng dòng điện đến trị số IĐ”> IĐ’ (hình 1.19c). Rơle đầu ra sẽ phản ứng theo sự tăng dòng điện và theo tín hiệu phản hồi đã được mã hóa.

Trên hình 1.20 trình bày việc mã hóa tín hiệu bằng cách thay đổi thời gian phát tín hiệu và thời gian dừng .Trong các khoảng thời gian này nhiều phép đo được tiến hành: M1, M2 và M3 cho khoảng thời gian truyền tín hiệu và P1, P2..P6 cho khoảng thời gian dừng. Phương pháp này cho phép loại trừ được ảnh hưởng của nhiễu do dòng điện phía sơ cấp và phép đo được tiến hành riêng cho từng nửa chu kỳ dương và âm sẽ tránh được ảnh hưởng của nhiễu có tần số bội của 12,5Hz.

Sơ đồ nguyên lý (a) của bảo vệ 100% cuộn dây stato MFĐ chống chạm đất dùng biện pháp bơm tín hiệu 12,5Hz được mã hoá và sơ đồ xác định dòng điện chạm đất Iđ khi làm việc bình thường (b) và khi chạm đất (c). (Hình 1.19)

Các sơ đồ bảo vệ 100% cuộn dây stator chống chạm đất thường được sử dụng kết hợp với sơ đồ bảo vệ 90% để tăng độ tin cậy cho hệ thống chạm đất.

Biểu đồ bơm tín hiệu 12,5Hz được mã hoá để thực hiện bảo vệ 100% cuộn dây stator chống chạm đất. A- chu kỳ hoạy động; B- thời gian phát tín hiệu; C- thời gian dừng; Thời gian đo; E- thời gian kiểm tra tín hiệu phản hồi (Hình 1.20)

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự