Tài liệu

Bảo vệ chống sự cố trực tiếp bên trong MBA

BẢO VỆ CHỐNG SỰ CỐ TRỰC TIẾP BÊN TRONG MBA

Bảo vệ quá dòng điện:

Cầu chì:

Với MBA phân phối nhỏ thường được bảo vệ chỉ bằng cầu chì (hình2.5). Trong trường hợp máy cắt không được dùng thì cầu chì làm nhiệm vụ cắt sự cố tự động, cầu chì là phần tử bảo vệ quá dòng điện và chịu được dòng điện làm việc cực đại của MBA. Cầu chì không được đứt trong thời gian quá tải ngắn như động cơ khởi động, dòng từ hoá nhảy vọt khi đóng MBA không tải...

Hình 2.5

Rơle quá dòng điện:

Máy biến áp lớn với công suất (1000-1600)KVA hai dây quấn, điện áp đến 35KV, có trang bị máy cắt, bảo vệ quá dòng điện được dùng làm bảo vệ chính, MBA có công suất lớn hơn bảo vệ quá dòng được dùng làm bảo vệ dự trữ. Để nâng cao độ nhạy cho bảo vệ người ta dùng bảo vệ quá dòng có kiểm tra áp (BVQIKU). Đôi khi bảo vệ cắt nhanh có thể được thêm vào và tạo thành bảo vệ quá dòng có hai cấp (hình 2.6). Với MBA 2 cuộn dây dùng một bộ bảo vệ đặt phía nguồn cung cấp. Với MBA nhiều cuộn dây thường mỗi phía đặt một bộ.

Sơ đồ nguyên lý bảo vệ quá dòng cắt nhanh và có thời gian (Hình 2.6)

Bảo vệ so lệch dọc:

Đối với MBA công suất lớn làm việc ở lưới cao áp, bảo vệ so lệch (87T) được dùng làm bảo vệ chính. Nhiệm vụ chống ngắn mạch trong các cuộn dây và ở đầu ra của MBA.

Bảo vệ làm việc dựa trên nguyên tắc so sánh trực tiếp dòng điện ở hai đầu phần tử được bảo vệ. Bảo vệ sẽ tác động đưa tín hiệu đi cắt máy cắt khi sự cố xảy ra trong vùng bảo vệ (vùng bảo vệ là vùng giới hạn giữa các BI mắc vào mạch so lệch).

Sơ đồ nguyên lí bảo vệ so lệch MBA 2 cuộn dây (Hình 2.7)

Khác với bảo vệ so lệch các phần tử khác (như máy phát...), dòng điện sơ cấp ở hai (hoặc nhiều) phía của MBA thường khác nhau về trị số (theo tỷ số biến áp) và về góc pha (theo tổ đấu dây). Vì vậy tỷ số, sơ đồ BI được chọn phải thích hợp để cân bằng dòng thứ cấp và bù sự lệch pha giữa các dòng điện ở các phía MBA.

Dòng không cân bằng chạy trong bảo vệ so lệch MBA khi xảy ra ngắn mạch ngoài lớn hơn nhiều lần đối với bảo vệ so lệch các phần tử khác.

Các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến dòng không cân bằng trong bảo vệ so lệch MBA khi ngắn mạch ngoài là:

  • Do sự thay đổi đầu phân áp MBA.
  • Sự khác nhau giữa tỷ số MBA, tỷ số BI, nấc chỉnh rơle.
  • Sai số khác nhau giữa các BI ở các pha MBA.

Sơ đồ nguyên li bảo vệ so lệch có dùng máy biến dòng bão hòa trung gian (Hình 2.8)

Vì vậy, bảo vệ so lệch MBA thường dùng rơle thông qua máy biến dòng bão hoà trung gian (loại rơle điện cơ điển hình như rơle PHT của Liên Xô) hoặc rơle so lệch tác động có hãm (như loại ÔZT của Liên Xô).

Hình 2.8 cho sơ đồ nguyên lý một pha của bảo vệ so lệch có dùng máy biến dòng bão hòa trung gian. Trong đó máy biến dòng bão hòa trung gian có hai nhiệm vụ chính:

  • Cân bằng các sức từ động do dòng điện trong các nhánh gây nên ở tình trạng bình thường và ngắn mạch ngoài theo phương trình:

IIT(WcbI + WlvS) + IIIT(WcbII + WlvS) = 0

  • Nhờ hiện tượng bão hòa của mạch từ làm giảm ảnh hưởng của dòng điện không cân bằng Ikcb (có chứa phần lớn dòng không chu kỳ).

Bảo vệ MBA ba cuộn dây dùng rơle so lệch có hãm:

Nếu MBA ba cuộn dây chỉ được cung cấp nguồn từ một phía, hai phía kia nối với tải có các cấp điện áp khác nhau, rơle so lệch được dùng như bảo vệ MBA hai cuộn dây (hình 2.9a). Tổng dòng điện thứ cấp hai BI phía tải sẽ cân bằng với dòng điện thứ cấp BI phía nguồn trong điều kiện làm việc bình thường. Khi MBA có hơn một nguồn cung cấp, rơle so lệch dùng hai cuộn hãm riêng biệt bố trí như hình 2.9b.

Sơ đồ bảo vệ so lệch có hãm MBA ba cuộn dây (Hinh 2.9)

Bảo vệ chống chạm đất cuộn dây MBA:

Đối với MBA có trung tính nối đất, để bảo vệ chống chạm đất một điểm trong cuộn dây MBA có thể được thực hiện bởi rơle quá dòng điện hay so lệch thứ tự không. Phương án được chọn tuỳ thuộc vào loại, cỡ, tổ đấu dây MBA.

Khi dùng bảo vệ quá dòng thứ tự không bảo vệ nối vào BI đặt ở trung tính MBA, hoặc bộ lọc dòng thứ tự không gồm ba BI đặt ở phía điện áp có trung tính nối đất trực tiếp (hình 2.10). Đối với trường hợp trung tính cuộn dây nối sao nối qua tổng trở nối đất bảo vệ quá dòng điện thường không đủ độ nhạy, khi đó người ta dùng rơle so lệch như hình 2.12a. Bảo vệ này so sánh dòng chạy ở dây nối đất IN và tổng dòng điện 3 pha (IO). Chọn IN là thành phần làm việc và nó xuất hiện khi có chạm đất trong vùng bảo vệ. Khi chạm đất ngoài vùng bảo vệ dòng thứ tự không (IO tổng dòng các pha) có trị số bằng nhưng ngược pha với dòng qua dây trung tính IN.

Sơ đồ nguyên lý bảo vệ chống chạm đất MBA bằng bảo vệ quá dòng điện (Hình 2.10)

Các đại lượng làm việc và hãm như sau:

Ilv=I˙N size 12{I rSub { size 8{"lv"} } = lline { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{"N "}} } rline } {} (2-1)

I˙h1=I˙N+I˙o ; size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{"h1"} } = { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } + { dot {I}} rSub {o} size 12{" ;"}} {}I˙h2=I˙NI˙o size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{"h2"} } = { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } - { dot {I}} rSub {o} size 12{ }} {} (2-2)

Các dòng điện hãm được phối hợp với nhau về độ lớn để tạo nên tác dụng hãm theo quan hệ:

Ih=k(I˙NI˙0I˙N+I˙0) size 12{I rSub { size 8{h} } =k \( lline { dot {I}} rSub { size 8{N} } - { dot {I}} rSub { size 8{0} } rline - lline { dot {I}} rSub { size 8{N} } + { dot {I}} rSub { size 8{0} } rline \) } {} (2-3)

Với I˙N size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{N} } } {}: dòng dây nối đất; I˙oI˙A+I˙B+I˙C; size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{o} } approx { dot {I}} rSub { size 8{A} } + { dot {I}} rSub { size 8{B} } + { dot {I}} rSub { size 8{C} } ;} {} k: hằng số tỷ lệ.

Khảo sát cách làm việc của rơle so lệch thứ tự không:

  • Khi chạm đất bên ngoài: I˙o size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{o} } } {}ngược pha với I˙N size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{N} } } {} và bằng nhau về trị số: I˙o=I˙N size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{o} } = - { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } } {}.

Giả thiết chọn k=1, lúc đó Ilv=I˙N, Ih=I˙N+I˙NI˙NI˙N=2I˙N, size 12{I rSub { size 8{"lv"} } = lline { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } rline ", I" rSub {h} size 12{ {}= lline { dot {I}} rSub { size 9{N}} size 12{+ { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } } rline - lline { dot {I}} rSub { size 9{N}} size 12{ - { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } } rline =2 lline { dot {I}} rSub { size 9{N}} rline } size 12{,}} {}Ih=2Ilv. size 12{I rSub { size 8{h} } ="2I" rSub { size 8{"lv"} } "." } {}

  • Khi chạm đất bên trong, chỉ có thành phần qua trung tính: I˙0=0 size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{0} } =0} {}; I˙lv=I˙N; size 12{ { dot {I}} rSub { size 8{"lv"} } = lline { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } rline ;} {}
I h = I ˙ N 0 I ˙ N + 0 = 0 . size 12{I rSub { size 8{h} } = lline { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } - 0 rline - lline { dot {I}} rSub { size 9{N}} size 12{+0} rline =0 "." } {}
Sơ đồ nguyên lý bảo vệ so lệchthứ tự không có hãm (Hình 2.11)

Qua phân tích trên ta thấy, khi chạm đất bên trong thành phần hãm không xuất hiện. Như thế chỉ cần dòng chạm đất nhỏ xuất hiện khi chạm đất trong vùng bảo vệ (vùng giới hạn giữa các BI), bảo vệ sẽ cho tín hiệu tác động. Ngược lại khi chạm đất bên ngoài tác động hãm rất mạnh.

Nếu cuộn sao MBA nối đất qua tổng trở cao, rơle so lệch 87N có thể không đủ độ nhạy tác động, người ta có thể thay bằng rơle so lệch chống chạm đất tổng trở cao 64N (hình 2.12b). Rơle so lệch tổng trở cao được mắc song song với điện trở R có trị số khá lớn.

Trong chế độ làm việc bình thường hay ngắn mạch ngoài vùng bảo vệ (vùng giới hạn giữa các BI), ta có:

ΔI˙o=I˙oI˙N size 12{Δ { dot {I}} rSub { size 8{o} } = { dot {I}} rSub { size 8{o} } - { dot {I}} rSub { size 8{ size 9{N}} } } {} (2-4)

Nếu bỏ qua sai số của BI, ta có dòng điện thứ cấp chạy qua điện trở R bằng không và điện áp đặt lên rơle cũng bằng không, rơle sẽ không tác động.

Khi chạm đất trong vùng bảo vệ, lúc đó I0 = 0 nên ΔI0 = IN toàn bộ dòng chạm đất sẽ chạy qua điện trở R tạo nên điện áp rất lớn đặt trên rơle, rơle sẽ tác động.

Sơ đồ nguyên lý bảo vệ so lệch thứ tự không (Hình 2.12)

Bảo vệ MBA tự ngẫu:

Bảo vệ chính MBA tự ngẫu cũng là bảo vệ so lệch. Bảo vệ dựa trên cơ sở định luật Kirchoff, đó là tổng vectơ dòng điện vào ra các nhánh của đối tượng bảo vệ bằng không (ngoại trừ trường hợp sự số).

Bảo vệ so lệch MBA tự ngẫu (Hình 2.13)

Bảo vệ so sánh dòng điện thuộc hai nhóm: nhóm BI nối vào đầu cực MBA và nhóm BI nối vào trung tính MBA. Nếu bảo vệ chỉ dùng một biến dòng đặt ở trung tính MBA, các BI đặt ở đầu cực MBA được nối thành bộ lọc thứ tự không và nối đến một rơle, khi đó tạo thành bảo vệ so lệch chống chạm đất bên trong MBA tự ngẫu (hình 2.13a).

Trong trường hợp cuộn thứ ba (cuộn tam giác) không nối với tải, máy biến áp tự ngẫu dùng để liên kết hệ thống siêu cao áp và cao áp. Sơ đồ bảo vệ có thể thực hiện như hình 13b, các BI được phối hợp trên mỗi pha gần trung tính (điểm cuối của cuộn dây MBA) và dùng 3 rơle, lúc đó bảo vệ đáp ứng chống ngắn mạch nhiều pha và một pha bên trong cuộn dây chính MBA tự ngẫu. Sơ đồ này không đáp ứng khi sự cố cuộn dây thứ ba, để bảo vệ cho cuộn dây thứ ba trong trường hợp này người ta thường dùng bảo vệ quá dòng điện.

Bảo vệ tất cả các cuộn dây MBA tự ngẫu tương tự như bảo vệ cho MBA ba cuộn dây (hình 2.14).

Sơ đồ nguyên lý bảo vệ so lệch MBA tự ngẫu (Hình 2.14)
Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự