Tài liệu

Giáo dục thường xuyên

Social Sciences

 

Giáo dục thường xuyên và những khái niệm liên quan

 

Bùi Thanh Xuân, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam

(0988.962.747, bthanhxuan@gmail.com)

 

1.1 . Giáo dục chính qui

Khái niệm ‘giáo dục chính qui’ (formal education) nói tới hệ thống giáo dục có tổ chức, được cấu trúc theo thứ bậc chặt chẽ, theo các năm học từ tiểu học cho đến đại học, bao gồm cả các chương trình giáo dục, đào tạo kĩ thuật và chuyên nghiệp toàn thời gian, và dẫn tới văn bằng, chứng chỉ.

1.2 . Giáo dục không chính qui

Theo cách hiểu phổ biến ở nhiều nước, khái niệm ‘giáo dục không chính qui’ (nonformal education) chỉ các hoạt động giáo dục có tổ chức, được tiến hành bên ngoài hệ thống giáo dục chính qui, nhằm phục vụ các nhu cầu học tập khác nhau của nhiều nhóm đối tượng đa dạng trong xã hội, có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới văn bằng, chứng chỉ. Như vậy, GDKCQ bao gồm tất cả các chương trình giáo dục cho các đối tượng ngoài nhà trường, từ xoá mù chữ, sau xoá mù chữ, bổ túc văn hoá cho đến cao đẳng, đại học tại chức và các chương trình giáo dục không cấp lớp, giáo dục chuyên đề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người dân trong cộng đồng như giáo dục dân số, đời sống gia đình, sức khoẻ, dinh dưỡng, kĩ năng sống,… Các chương trình GDKCQ có thể do nhiều đơn vị, lực lượng đa dạng trong xã hội như các ban, ngành, đoàn thể, dự án, các phương tiện thông tin đại chúng tiến hành... nhằm đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu học tập đa dạng của các nhóm thanh thiếu niên và người lớn khác nhau.

            Tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệm GDKCQ được sử dụng theo phạm vi hẹp, và thường được đồng nhất với GDTX, chủ yếu gồm các chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lí, chỉ đạo (như Chương trình xóa mù chữ, Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, Bổ túc văn hóa, chương trình giáo dục tương đương trong các Trung tâm GDTX, chương trình đáp ứng nhu cầu người học…), phần lớn hướng đến các nhóm đối tượng thiệt thòi không có điều kiện đi học hoặc phải bỏ học hệ chính quy.

1.3. Giáo dục thường xuyên

Theo Chương trình giáo dục cho mọi người ở các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APPEAL), giáo dục thường xuyên (continuing education) được hiểu là quá trình giáo dục tiếp tục sau giáo dục ban đầu/giáo dục cơ bản (sau giáo dục XMC hay sau giáo dục tiểu học, giáo dục THCS tùy theo qui định về giáo dục phổ cập bắt buộc của từng nước) nhằm đáp ứng nhu cầu HTSĐ của mọi người. Sau khi đạt trình độ phổ cập ban đầu, mỗi người có thể tiếp tục học theo các phương thức khác nhau: chính qui, không chính qui hoặc phi chính qui, tùy theo điều kiện và nhu cầu từng cá nhân. Như vậy, theo quan niệm này GDTX là một khái niệm rộng, có thể bao gồm nhiều hình thức giáo dục khác nhau, từ GDCQ, GDKCQ cho đến GDPCQ.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm GDTX thường được dùng với ý nghĩa tương đương hoặc thay thế cho GDKCQ. Điều 40 Luật Giáo dục 1998 và Điều 44 Luật Giáo dục 2005 cùng khẳng định GDKCQ hay GDTX đều thực hiện mục tiêu ‘giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội’.

1.4. Giáo dục phi chính qui

Giáo dục phi chính qui chỉ việc học không có chủ đích của người học thông qua cuộc sống hàng ngày, qua phương tiện thông tin đại chúng, trong công việc, gia đình, trong các hoạt động vui chơi, giải trí và qua tương tác với mọi người cũng như môi trường xung quanh… Về bản chất, GDPCQ chính là quá trình học tập không chính thức, không chủ định trước, trong đó người học không đặt mục đích cho việc họ cần phải học một điều gì đó cụ thể, mà kết quả ‘học được’ thường đến một cách tự nhiên, như là hệ quả tất yếu của một loại hình hoạt động khác (như chơi trò chơi, đọc sách, nghe nhạc, đi du lịch…). Chính vì vậy, để phân biệt một cách rõ ràng hơn với khái niệm ‘giáo dục không chính qui’, GDPCQ lẽ ra nên được gọi là ‘giáo dục không chính thức’. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất tương đối, trong phạm vi tài liệu này vẫn dùng cách gọi hiện đang sử dụng trong các tài liệu trong nước là ‘giáo dục phi chính qui’.

1.5. Học tập suốt đời

Quan niệm HTSĐ

Mặc dù ý tưởng giáo dục suốt đời đã xuất hiện trong một số diễn đàn quốc tế từ những năm 60 của thế kỷ 20, song quan niệm chính thức về HTSĐ chỉ trở thành tâm điểm chú ý và chủ đề của nhiều cuộc thảo luận quốc tế sau khi có sự ra đời của các báo cáo mang tính đột phá như Báo cáo của Faure (1972) và của Delors (1996). Đặc biệt, với một loạt những phong trào, sáng kiến về HTSĐ do liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên khởi xướng và phát triển trong thập niên 90 (như mạng lưới thành phố/thị trấn học tập, năm Châu Âu về HTSĐ 1996, các dự án LILIPUT, PASCAL, ELLI về HTSĐ và xây dựng XHHT…), quan niệm về HTSĐ ngày càng trở nên sáng tỏ, có phạm trù rộng hơn, và được công nhận rộng rãi hơn ở trong cũng như ngoài phạm vi các quốc gia châu Âu.

Hầu hết các quan điểm đều thống nhất rằng HTSĐ bao hàm mọi hình thức học tập, thực hiện ở mọi lứa tuổi (từ lúc trong nôi cho đến khi qua đời), nhằm mục tiêu phát triển toàn diện khả năng của con người, với đầy đủ các kiến thức và kĩ năng cần thiết cho cuộc sống, công việc, giúp họ thích ứng được với xã hội và môi trường luôn đổi thay nhanh chóng hiện nay. Về bản chất, khái niệm HTSĐ cần được nhấn mạnh ở chỗ nó không chỉ giới hạn ở việc học của người lớn, như một số quan niệm trước đây. Theo định nghĩa của Viện Học tập suốt đời UNESCO (2011), HTSĐ bao gồm việc học của trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn, với phạm vi từ các hình thức học tập chính qui trong trường lớp, các hình thức học không chính qui và phi chính qui khác (qua đài, báo, học ngẫu nhiên không chủ ý…). Cách hiểu toàn diện về HTSĐ không chỉ hàm ý ‘chiều dài’ suốt cuộc đời của việc học (lifelong learning), mà nó còn đề cấp đến tính chất và các hình thức đa dạng của học tập (life-wide learning), và ‘chiều sâu’ (life-deep learning) hay tính hữu ích và độ sâu sắc của các kiến thức học được trong cuộc sống, phục vụ thực tế cuộc sống. Do đó, mục đích của HTSĐ là không chỉ để biết, hay để có bằng cấp, chứng chỉ, mà còn là học để thỏa mãn nhu cầu hoàn thiện bản thân, để tồn tại và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của cuộc sống, của thời đại.

Đối với Việt Nam, cho đến nay, định nghĩa cụ thể và những đặc trưng bản chất của HTSĐ trong điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam vẫn còn là khái niệm chưa được đề cập rõ ràng trong các văn bản chính thức của nhà nước, chưa được hiểu thống nhất cả trong giới nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và trong thực tiễn. Quan điểm chung của một số nhà nghiên cứu cho rằng khi nói đến HTSĐ thì không nên có sự phân chia cứng nhắc, hạn hẹp về lứa tuổi, như tuổi thơ gắn với vườn trẻ và trường mẫu giáo, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên và đầu tuổi thanh niên gắn với nhà trường, tuổi trưởng thành gắn với lao động, hay tuổi già gắn với nghỉ hưu. Nói một cách đơn giản, HTSĐ tức là lứa tuổi nào cũng phải học (Phạm Tất Dong, 2011). Nhìn chung, ở Việt Nam cách hiểu thông thường nhất về HTSĐ là học mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, ở mọi lứa tuổi và trình độ, không phân biệt hình thức học tập, đào tạo hay bằng cấp. Đồng thời, vẫn tồn tại những quan điểm đồng nhất hoặc gắn liền HTSĐ với giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, hay coi HTSĐ chỉ là phần kéo dài (học trong công việc, trong cuộc sống) sau khi đã kết thúc giáo dục phổ thông. Ngay cả trong Đề án Xây dựng XHHT 2012-2020 với HTSĐ được coi là quan điểm chỉ đạo, cũng không đề cập đến quan niệm cụ thể và phạm vi của HTSĐ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2007). Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2007 về Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục thường xuyên. Hà Nội.
  2. CEDEFOP (2008). Terminology of European Education and Training Policy – Selection of 100 key terms. Luxembourgh: Office for Official Publications of the European Communities.
  3. Collins III, J.W. and O’Brien N.P. (Edited). (2003). The Greenwood Dictionary of Education. Greenwood Press, London.
  4. Phạm Tất Dong. (2011). Phát triển giáo dục, hướng tới một xã hội học tập. Báo Đại đoàn kết, bản điện tử ngày 13/5/2011.
  5. Lifelong Learning Programme & Open Education Centre. (2009). Introduction into Nonformal Education. Sophie, Bulgaria.
  6. Tô Bá Trượng (chủ biên). (2001). Giáo dục thường xuyên: thực trạng và định hướng phát triển ở Việt Nam. NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
  7. UNESCO Institute for Lifelong Learning. (2011). Conceptual Evolution and Policy Development for Lifelong Learning. Edited by Jin Yang and Raul Valdes-Cotera. Hamburg, Germany.
  8. UNESCO Institute for Lifelong Learning. (2012). UNESCO Guidelines for the Recognition, Validation, and Accreditation of the Outcomes of Nonformal and Informal Learning. Hamburg, Germany.

 

 

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự