Khối tài sản riêng

Đặt vấn đề. Đáng lý ra, một khi đã có định nghĩa tài sản chung, chỉ cần nói rằng những tài sản nào không được luật coi là tài sản chung, thì là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Thế nhưng, ngoài việc thừa nhận những tài sản riêng do tính chất, luật viết lại xây dựng định nghĩa tài sản riêng bên cạnh định nghĩa tài sản chung. Cuối cùng, có những tài sản không được ghi nhận tại bất kỳ định nghĩa nào và cũng không hẳn có tính chất riêng, do đó, không thể được biết thuộc về cả vợ và chồng hay chỉ thuộc về riêng một người.

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 32 khoản 1, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

Tài sản riêng theo định nghĩa của luật

Tài sản có trước khi kết hôn

Có quyền sở hữu trước khi kết hôn. “Có”, trong luật hiện hành, hàm nghĩa rằng đương sự có quyền sở hữu.

- Các tài sản mà việc chuyển quyền sở hữu được giao kết trước khi kết hôn, nhưng chỉ được thực hiện sau khi kết hôn, là tài sản chung chứ không thể là của riêng. Ví dụ, hợp đồng mua bán nhà được giao kết và chứng nhận ngày 01/8, kết hôn ngày 07/8, đăng ký chuyển quyền sở hữu tại Sở địa chính ngày 16/8

Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu, thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó. (BLDS 2005 Điều 439 khoản 2).
; vậy, nhà mua được là tài sản chung của vợ và chồng.

- Các tài sản được chiếm hữu trước khi kết hôn, nhưng thời hiệu xác lập quyền sở hữu chỉ hoàn tất sau khi kết hôn, sẽ rơi vào khối tài sản chung, do quyền sở hữu theo thời hiệu chỉ được xác lập vào ngày kết thúc thời hiệu, áp dụng BLDS 2005 Điều 157 khoản 1

Trong luật La Mã và luật thực định của các nước Châu Âu, quyền sở hữu theo thời hiệu, một khi được xác lập, sẽ coi như được xác lập vào ngày bắt đầu việc chiếm hữu. Thực ra, người nghiên cứu luật có cảm giác rằng khi xây dựng Điều 157 khoản 1 BLDS 2005 ( hay Điều 166 khoản 1 BLDS 1995), người soạn thảo BLDS không liên tưởng đến việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu và không có ý định áp dụng điều này để xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Rõ ràng, nếu cho rằng ngày xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu là ngày kết thúc thời hiệu, thì trong suốt thời gian mà thời hiệu đang tiến triến, người chiếm hữu quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản của người khác. Nếu thừa nhận rằng ngày xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu là ngày bắt đầu việc chiếm hữu, thì tình trạng bất hợp lý đó sẽ không xuất hiện.
. Người chồng bắt được một con bò đi lạc trước khi kết hôn; tiến hành thông báo công khai xong, vợ và chồng đăng ký kết hôn; một năm sau ngày thông báo, không có người đến nhận lại tài sản, con bò trở thành tài sản chung của vợ và chồng, do thời hiệu kết thúc trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, nếu việc chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai, thì sau một thời hạn được pháp luật quy định, quyền sở hữu được thừa nhận cho người chiếm hữu kể từ ngày bắt đầu việc chiếm hữu, áp dụng BLDS 2005 Điều 247 khoản 1.

Tài sản được thừa kế riêng hoặc cho riêng

Thế nào là thừa kế riêng, tặng cho riêng ? Không có gì khó khăn trong trường hợp nhận tài sản do thừa kế theo pháp luật, như đã nói: vợ hoặc chồng, dù có cùng được gọi để nhận di sản để lại theo pháp luật, xuất hiện với tư cách cá nhân người thừa kế theo pháp luật. Cũng không có khó khăn trong trường hợp di tặng hoặc tặng cho trong gia đình mà trên chứng thư chỉ có tên một người: tài sản được di tặng hoặc được tặng cho trong trường hợp này thuộc về người đó. Khó khăn cũng không tồn tại trong trường hợp vợ hoặc chồng được lập làm người thừa kế theo di chúc của một người khác: phần di sản mà người thừa kế theo di chúc được hưởng, ngay nếu như không được xác định bằng các tài sản cụ thể, vẫn là của riêng người thừa kế theo di chúc.

Trái lại, trong trường hợp di tặng hoặc tặng cho mà trên chứng thư có tên cả hai người, thì đó là tặng cho chung cả vợ và chồng hay tặng cho riêng mỗi người ? Thông thường, một khi tặng cho hoặc di tặng cả vợ và chồng, việc tặng cho hoặc di tặng thường được ghi nhận bằng những câu chữ không rõ nghĩa: “Tôi cho hai đứa...”, “Tôi để lại cho vợ chồng nó...”. Tục lệ, về phần mình, thừa nhận rằng một khi di tặng hoặc tặng cho mang tính chất gia đình mà có người thụ hưởng là cả vợ và chồng, thì tài sản được tặng cho hoặc di tặng rơi vào khối tài sản chung chứ không thể trở thành tài sản thuộc sở hữu chung theo phần của vợ và chồng.

Tài sản riêng do tính chất

Gọi là riêng do tính chất, những tài sản mà do đặc điểm cấu tạo và công dụng, chỉ có thể là của riêng vợ hoặc chồng. Luật hiện hành chỉ ghi nhận hai loại tài sản riêng do tính chất: tư trang và đồ dùng cá nhân. Trên thực tế còn những thứ khác.

Tư trang và đồ dùng cá nhân

Thế nào là tư trang? Một món trang sức (nhẫn, dây chuyền, vòng đeo tay, hoa tai,...) bằng kim loại quý hoặc đá quý được chế tác theo kiểu dáng dành riêng cho phụ nữ là của riêng người vợ; đồng hồ đeo tay kiểu dáng dành riêng cho nam giới là của riêng người chồng. Tuy nhiên, khó có thể được coi là của riêng người này hay người nọ, một món trang sức đắt tiền mà việc mua sắm đòi hỏi huy động một khối lượng tiền lớn so với thu nhập thường xuyên của gia đình: món trang sức mua sắm trong trường hợp đó nên được ghi nhận như một hình thức tích lũy của cải trong thời kỳ hôn nhân và do đó, là tài sản chung của vợ và chồng, nhất là một khi vợ (chồng) không thường xuyên sử dụng món trang sức đó. Cũng coi như hình thức tích lũy của cải (và là tài sản chung, nếu được tích lũy trong thời kỳ hôn nhân), các kim loại quý, đá quý được chế tác theo đơn vị đo lường, chủ yếu để tiện cho việc bảo quản, vận chuyển hoặc giao dịch (vàng lá, vàng thỏi,...).

Thế nào là đồ dùng cá nhân? Vấn đề quần áo có lẽ không phức tạp lắm. Là vật tiêu dùng, quần áo không thể được coi là hình thức tích lũy của cải. Thông thường, quần áo được mua sắm bằng một phần thu nhập do lao động, nghĩa là bằng một phần tài sản chung. Tuy nhiên, trong tâm lý, dân cư, quần áo không bao giờ được xem là tài sản chung của vợ và chồng. Ngay nếu như việc mua một bộ quần áo nào đó đòi hỏi việc huy động một số tiền lớn (bộ veste của người chồng; bộ áo dạ hội của người vợ;...), thực tiễn vẫn thừa nhận rằng quần áo đó là của riêng người sử dụng; nếu tiền được trả cho việc mua sắm quần áo là tiền chung, thì việc mua sắm không được coi là hình thức đóng góp của khối tài sản chung vào sự phát triển của khối tài sản riêng. Trong một số trường hợp hôn nhân chấm dứt do ly hôn và cần phải chia tài sản chung, vợ, chồng có thể trách móc nhau về việc phung phí tiền bạc chung cho việc ăn mặc; nhưng hầu như không ai nhắc lại những khoản đầu tư đó, như là những món nợ của khối tài sản riêng đối với khối tài sản chung.

Các đồ dùng cá nhân khác cũng được giải quyết tương tự.

Công cụ lao động và phương tiện di chuyển

Công cụ lao động có được coi là một loại đồ dùng cá nhân ? Vấn đề thường chỉ được đặt ra một khi công cụ lao động có giá trị lớn và chỉ được một người sử dụng. Thông thường, khi hôn nhân chấm dứt, người trực tiếp sử dụng công cụ lao động, nếu còn sống, sẽ tiếp tục sử dụng các công cụ ấy. Nếu coi đó là tài sản chung, thì người sử dụng coi như có độc quyền đối với các tài sản ấy và sẽ được chia ưu tiên trong khuôn khổ phân chia tài sản chung sau khi hôn nhân chấm dứt; trong trường hợp giá trị của các công cụ lao động lớn hơn giá trị phần quyền của người sử dụng trong khối tài sản chung được chia, thì người sử dụng phải thanh toán tiền chênh lệch cho người còn lại.

Phương tiện di chuyển. Tương tự, phương tiện di chuyển của cá nhân có thể được coi là đồ dùng cá nhân hoặc là tài sản chung được sử dụng riêng. Tất nhiên, nếu phương tiện di chuyển được tạo ra trước khi kết hôn, thì đó là của riêng, nhưng không phải vì tính chất đồ dùng cá nhân của tài sản, mà trước hết, vì đó là tài sản có được trước khi kết hôn. Nếu phương tiện được mua trong thời kỳ hôn nhân và được sử dụng chung

“Sử dụng” phải được hiểu như là việc khai thác khả năng vận chuyển của phương tiện chứ không phải là việc trực tiếp điều khiển phương tiện. Nhà chỉ có mỗi một chiếc xe máy và chỉ có người chồng biết điều khiển xe; nhưng việc chồng và vợ cùng ngồi trên xe để di chuyển từ nơi này sang nơi khác phải được ghi nhận như là việc vợ và chồng cùng sử dụng phương tiện.
, thì chắc chắn là tài sản chung. Khó khăn chỉ xuất hiện một khi tài sản được mua trong thời kỳ hôn nhân, nhưng lại chỉ được một người sử dụng. Có thể nghĩ rằng, cũng như đối với công cụ lao động, tính chất riêng hay chung của phương tiện di chuyển trong trường hợp sau này tuỳ thuộc vào tương quan giữa giá trị của phương tiện so với giá trị của toàn bộ khối tài sản chung cũng như với thu nhập thường xuyên của gia đình.

Tài sản riêng do áp dụng luật chung về xác lập quyền sở hữu theo các phương thức trực tiếp

Sáp nhập. Trộn lẫn. Chế biến. Nếu một tài sản được sáp nhập vào tài sản riêng mà tài sản riêng là vật chính, thì vật mới được tạo thành cũng là của riêng. Vật nuôi dưới nước đi vào ruộng, ao, hồ riêng cũng là của riêng. Nếu một tài sản riêng được chế biến thành một tài sản khác, thì tài sản mới cũng là của riêng... Tất cả các giải pháp này đều chỉ là kết quả áp dụng luật chung về căn cứ xác lập quyền sở hữu. Tất nhiên, nếu tài sản chung được sáp nhập, như một vật phụ, vào một tài sản riêng, nếu tiền thù lao cho việc chế biến một tài sản riêng được thanh toán bằng tiền chung, thì khối tài sản chung coi như có đóng góp vào việc phát triển khối tài sản riêng: khi hôn nhân chấm dứt, người vợ (chồng) còn lại trong trường hợp này có quyền yêu cầu ghi nhận sự đóng góp đó khi tính toán phần của mỗi người trong khối tài sản chung.

Tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Tài sản chia và một số tài sản khác. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, được thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật, có tác dụng làm cho tài sản chia đi vào khối tài sản riêng của người được chia. Không chỉ vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân còn đặt cơ sở cho việc áp dụng một số quy tắc đặc biệt liên quan đến thành phần cấu tạo của khối tài sản riêng mà không được ghi nhận trong luật chung. Các vấn đề liên quan sẽ được xem xét sau.

Tài sản có tính chất mập mờ

Tài sản hình thành trong những trường hợp phát triển một tài sản riêng

Chia một tài sản mà vợ (chồng) có quyền sở hữu chung theo phần với người khác. Vợ hoặc chồng cùng với một người thứ ba có quyền sở hữu chung theo phần đối với một tài sản đặc định

Ví dụ. Cha chồng có hai con trai. Cha chết để lại một căn nhà. Chồng cùng với em trai có quyền sở hữu theo phần đối với căn nhà đó, mỗi người một nửa.
. Tiến hành phân chia tài sản chung, vợ (chồng) được nhận trọn tài sản với điều kiện trả tiền chênh lệch cho người thứ ba ấy
Có một cách khác, tương tự, để chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần giữa hai người: đồng chủ sở hữu chuyển nhượng phần quyền của mình cho người còn lại theo giá do hai bên thoả thuận.
. Tài sản được chia trong trường hợp này là của riêng hay của chung ? Có ba giải pháp để lựa chọn.

- Hoặc ta nói rằng trước khi chia, vợ (chồng) chỉ có một phần quyền trừu tượng đối với tài sản chứ không có trọn quyền sở hữu đối với tài sản cụ thể. Bởi vậy, tài sản được chia coi như tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung. Trong tài sản chung đó có phần đóng góp của vợ (chồng), tương ứng với phần quyền sở hữu trước đây đối với tài sản chung, và phần đóng góp này được ghi nhận để tính giá trị phần quyền của vợ (chồng) trong khối tài sản chung được chia sau khi hôn nhân chấm dứt;

- Hoặc ta thừa nhận rằng vợ (chồng) có quyền sở hữu đối với một nửa tài sản; một nửa còn lại được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, một nửa tài sản thuộc khối tài sản riêng; một nửa còn lại thuộc khối tài sản chung;

- Hoặc ta cho rằng việc phân chia chỉ nhằm chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần, còn quyền sở hữu đối với tài sản được xác lập cho vợ (chồng) kể từ ngày bắt đầu tình trạng sở hữu chung theo phần. Thế thì, tài sản được chia phải là của riêng. Tất nhiên, nếu tiền chênh lệch được thanh toán bằng cách trích từ ngân quỹ chung của vợ chồng, thì khối tài sản riêng “nợ” khối tài sản chung số tiền đó và phải thanh toán nợ khi thanh toán và phân chia tài sản chung.

Luật viết hiện hành chưa lựa chọn giải pháp nào. Giải pháp thứ ba có vẻ hợp lý nhất; tuy nhiên, trong khung cảnh của luật thực định, có lẽ giải pháp thứ nhất dễ được chấp nhận hơn đối với người áp dụng pháp luật.

Xây dựng hoặc trồng cây lâu năm trên đất thuộc quyền sử dụng riêng. Vợ và chồng dùng tiền chung để mua một số vật liệu xây dựng hoặc cây giống để xây nhà hoặc trồng trọt trên đất thuộc quyền sử dụng riêng của người vợ. Nhà được xây dựng và cây được trồng có bị sáp nhập vào quyền sử dụng đất riêng để trở thành tài sản riêng của người vợ? Vấn đề được đặt ra do, trong khung cảnh của luật thực định, có lúc quyền sử dụng đất được coi là vật chính và các tài sản gắn liền với đất là vật phụ, có trường hợp giữa quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất lại không hề có quan hệ vật chính-vật phụ. Có vẻ như thực tiễn có xu hướng không thừa nhận sự sáp nhập vật kiến trúc, cây lâu năm vào quyền sử dụng đất kiểu như vật phụ sáp nhập vào vật chính. Nói rõ hơn, nếu việc xây dựng, trồng cây lâu năm được thực hiện trên đất riêng, thì khối tài sản chung thực hiện quyền sở hữu bề mặt

Về quyền sở hữu bề mặt: xem Tài sản, đd, số 321 và kế tiếp. Xu hướng không thừa nhận sự sáp nhập đương nhiên của các vật kiến trúc, cây trồng vào quyền sử dụng đất được thể hiện rất rõ trong luật về đăng ký bất động sản. Trong luật Việt Nam hiện hành, quyền sở hữu nhà ở được đăng ký theo thủ tục riêng so với việc đăng ký quyền sử dụng đất. Tương ứng với mỗi thủ tục riêng, một loại giấy chứng nhận đăng ký riêng được cấp.
, quyền sử dụng đất tiếp tục thuộc khối tài sản riêng.

Các quyền tài sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhân thân

Tiền bồi thường thiệt hại. Chồng bị một người khác đánh trọng thương và được bồi thường một số tiền để bù đắp thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm; số tiền bồi thường thiệt hại đó là của chung hay của riêng ? Tài sản riêng của vợ bị hủy hoại; vợ kiện và được bồi thường một số tiền; tiền đó là của riêng hay của chung ? Nhà của cha mẹ chồng cho riêng chồng bị thiêu cháy và được công ty bảo hiểm bồi thường; số tiền đó thuộc khối tài sản nào ?

Có thể nghĩ rằng trong trường hợp sức khoẻ bị xâm hại, khối tài sản chung của gia đình thường ứng trước chi phí thuốc men và điều trị bệnh; bởi vậy, phần tiền bồi thường thiệt hại dùng để hoàn trả chi phí thuốc men và điều trị bệnh đã được ứng trước không trở thành tài sản chung hay tài sản riêng, mà tự nó vốn là tài sản chung. Phần bù đắp thu nhập bị mất trong thời gian điều trị và dưỡng bệnh thay thế cho thu nhập, do đó, cũng phải là tài sản chung. Thế nhưng, phần bồi thường đối với tổn thất về thân thể mà chính người bị thiệt hại phải gánh chịu cũng như phần bồi thường thiệt hại về tinh thần của người này, là tài sản riêng hay tài sản chung ? Cả luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đều chưa trả lời câu hỏi này. Trong suy nghĩ phù hợp với đạo lý, loại bồi thường thiệt hại này phải được coi như tương ứng với một quyền gắn liền với nhân thân của người bị thiệt hại và không thể là tài sản chung

Ở Pháp, một số tác giả nói rằng coi tiền bồi thường thiệt hại do thân thể bị xâm phạm là tài sản chung, là một điều lố bịch và kỳ cục: xem Colomer, Droit civil - régimes matrimoniaux, đd, số 727 . Suy cho cùng khối tài sản chung không thể làm giàu trên thân thể con người.
. Nói tóm lại, khoản tiền bồi thường thiệt hại, trong trường hợp có tranh cãi về tính chất chung hay riêng, cần phải được phân tích thành những tiểu khoản, mỗi tiểu khoản tương ứng với một mục đích bồi thường đặc thù, và dựa vào mục đích bồi thường đó, tiểu khoản liên quan được coi là tài sản chung hoặc tài sản riêng.

Riêng trong các trường hợp tài sản riêng bị hủy hoại và được bồi thường, có lẽ rất khó tìm được lý lẽ cho việc thừa nhận rằng khoản tiền bồi thường rơi vào khối tài sản chung. Điều chắc chắn, đó không phải là tài sản được tạo ra; mà cũng không phải là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ một tài sản; càng không phải là một loại thu nhập. Áp dụng phương pháp suy lý ngược vào việc phân tích Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 27, ta có thể kết luận: tiền bồi thường thiệt hại do tài sản riêng bị hủy hoại là tài sản riêng.

Tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động. Khác với những loại tiền bồi thường thiệt hại khác, tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động có liên quan trực tiếp với hoạt động nghề nghiệp của người được bồi thường. Nếu coi đó là một loại tài sản thay thế cho thu nhập bị mất, thì tiền bồi thường là tài sản chung; thế nhưng, nếu coi đó là một hình thức bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, thì, như đã nói ở trên, tính chất chung hay riêng của khoản tiền bồi thường vẫn chưa được xác định trong khung cảnh của luật thực định, dù trong logique và đạo lý của sự việc, ta nên coi loại tài sản này là tài sản riêng.

Tài sản hỗn hợp

Quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ điển hình là các quyền tài sản của tác giả. Trong thực tiễn, người muốn sử dụng một tác phẩm thường chỉ làm việc với tác giả, chứ không phải với cả vợ hoặc chồng của tác giả. Tuy nhiên, một khi tác giả nhận được một khoản tiền nhuận bút hoặc thù lao về việc cho phép sử dụng tác phẩm, thì khoản tiền ấy được đồng hoá với thu nhập do lao động hoặc với hoa lợi từ tài sản và, do đó, rơi vào khối tài sản chung của vợ và chồng. Cũng được coi là hoa lợi gắn với tài sản phần hiện vật kèm theo các giải thưởng khoa học, nghệ thuật đối với tác phẩm.

Thế còn bản thân tác phẩm, như một tài sản vô hình, là tài sản chung hay riêng, nếu được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân ? Suy cho cùng, các tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân phải là của chung, do áp dụng luật chung về quan hệ tài sản của vợ chồng, dù việc tạo ra được ghi nhận dưới hình thức một giao dịch hoặc một hoạt động sáng tạo. Thế nhưng, tác phẩm là một loại tài sản đặc biệt, có xuất xứ từ con tim, khối óc của tác giả. Bởi vậy, thực tiễn thừa nhận rằng chỉ có tác giả (đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm) mới là người duy nhất có các quyền tài sản đối với tác phẩm, dù giá trị tài sản của tác phẩm thuộc khối tài sản chung.

Phần hùn, cổ phần trong công ty. Cũng tương tự như vậy, các giải pháp của thực tiễn liên quan đến các phần hùn, cổ phần có ghi tên trong các công ty. Đối với công ty, chỉ người nắm giữ phần hùn hoặc cổ phần mới là thành viên công ty và là người có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết tại các cuộc họp của các thành viên công ty; các hoa lợi, lợi tức gắn liền với phần hùn hoặc cổ phần là tài sản chung của vợ và chồng. Tuy nhiên, nếu các phần hùn hoặc cổ phần được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thì bản thân giá trị tài sản của phần hùn hoặc cổ phần cũng là của chung và sẽ được tính trong khối tài sản chung được phân chia sau khi hôn nhân chấm dứt. Trong điều kiện luật viết không có quy định rành mạch, ta thừa nhận, trong logique của sự việc, rằng người đứng tên trên cổ phần (nếu cổ phần thuộc loại có ghi tên) hoặc phần hùn thường được ưu tiên trong việc nhận các cổ phần hoặc phần hùn ấy khi phân chia; và nếu giá trị phần tài sản nhận được lớn hơn giá trị phần quyền của người này trong khối tài sản chung, thì người này phải trả cho người kia một số tiền chênh lệch.