Lịch sử thế giới

Lịch sử thế giới mà theo cách nói dân dã là lịch sử xã hội loài người, từ khi con người thông minh xuất hiện lần đầu tiên cho đến ngày nay.

Thời kỳ đồ đá cũ

Bản đồ những cuộc di cư đầu tiên của loài người, theo di truyền mDNA (số lượng hàng nghìn trước thời hiện nay).

Bằng chứng khoa học dựa trên di truyền học và nghiên cứu hóa thạch, đặt nguồn gốc người hiện đại Homo sapiens ở Châu Phi [1]. Điều này đã xảy ra khoảng 200.000 năm trước ở thời Đồ đá cũ, sau một giai đoạn lâu dài của tiến trình phát triển. Những tổ tiên của loài người, như Homo erectus, đã sử dụng những công cụ đơn giản trong hàng nghìn năm, nhưng cùng với thời gian, các công cụ đó trở nên tinh xảo và phức tạp hơn. Con người cũng phát triển ngôn ngữ khoảng thời gian nào đó thời kỳ Đồ đá cũ, cũng như một thứ nhận thức gồm cả phương pháp chôn cất người chết, nó chỉ ra rõ rằng đức tin vào một thế giới bên kia có nguồn gốc rất xa trước tôn giáo có tổ chức.

Con người ở thời này cũng biết tự trang điểm cho mình bằng các đồ vật để cải thiện hình ảnh bên ngoài. Ở thời này, tất cả loài người sống theo kiểu săn bắt - hái lượm, nói chung là kiểu du mục.

Từ Châu Phi, con người hiện đại nhanh chóng phát triển ra khắp quả đất và những vùng không băng giá ở Châu Âu và Châu Á. Sự phát triển nhanh chóng của loài người về hướng Bắc Mỹ và Châu Đại Dương diễn ra ở thời cực thịnh của Kỷ băng hà gần đây, khi những vùng thời tiết hiện nay đặc biệt khắc nghiệt và chưa cư trú được. Vì vậy, đến cuối Kỷ băng hà khoảng 12.000 năm trước, con người hầu như đã sinh sống ở toàn bộ những vùng không băng giá của quả đất.

Các xã hội săn bắt - hái lượm có khuynh hướng rất nhỏ, mặc dầu trong một số trường hợp họ đã phát triển sự phân tầng xã hội và những tiếp xúc ở khoảng cách xa đã có thể diễn ra ở trường hợp những "xa lộ" bản xứ Australia.

Cuối cùng đa số các xã hội săn bắt - hái lượm đã phát triển, hay buộc phải bị hấp thu vào những tổ chức xã hội nông nghiệp lớn hơn. Những xã hội không hội nhập bị tiêu diệt, hay vẫn trong tình trạng cách ly, những xã hội săn bắt hái lượm nhỏ đó hiện vẫn tồn tại ở những vùng xa xôi.

Thời kỳ đồ đá mới

Sự phát triển của nông nghiệp

Một sự thay đổi lớn, được miêu tả bởi nhà tiền sử học Vere Gordon Childe như là một "cuộc cách mạng," đã diễn ra khoảng thiên niên kỷ 9 TCN với việc hình thành nghề nông. Mặc dầu nghiên cứu có khuynh hướng tập trung vào vùng đất Trăng lưỡi liềm màu mỡ ở Trung Đông, khảo cổ học ở Châu Mỹ, Đông Á và Đông Nam Á cho thấy rằng những hệ thống nông nghiệp trồng cấy nhiều loại ngũ cốc khác nhau và sử dụng các loại gia súc khác nhau có thể đã phát triển hầu như đồng thời ở một số nơi.

Một bước tiến nữa ở nông nghiệp Trung Đông xảy ra với sự phát triển tưới tiêu có tổ chức và sử dụng lực lượng lao động chuyên biệt, bởi những người Sumer, bắt đầu vào khoảng 5.500 TCN. Đồng và sắt thay thế đá để trở thành công cụ trong nông nghiệp và chiến tranh. Tới tận lúc đó những xã hội nông nghiệp định cư hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào các công cụ đá. Ở Âu Á, các công cụ đồng đỏ và đồng thau, những đồ trang trí và vũ khí bắt đầu trở nên dồi dào vào khoảng năm 3000 TCN. Sau đồ đồng, vùng Đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Trung Quốc bắt đầu sử dụng công cụ và vũ khí bằng sắt.

Những người dân Châu Mỹ có thể không hề biết tới công cụ kim loại cho tới tầng Chavin năm 900 TCN. Chúng ta cũng biết rằng Moche có áo giáp, những con dao và bộ đồ ăn bằng kim loại. Thậm chí người Inca vốn ít dùng đồ kim loại cũng có những chiếc cày mũi kim loại, ít nhất sau khi chinh phục Chimor. Tuy nhiên, ít có những tìm kiếm khảo cổ học ở Peru và hầu như toàn bộ khipus (những vật sáng chế để ghi lại thông tin, dưới hình thức các nút thắt, người Incas từng sử dụng) đã bị đốt cháy khi diễn ra Cuộc chinh phục Peru của người Tây Ban Nha. Toàn bộ các thành phố vẫn đang được khám phá vào năm 2004. Một số khai quật khảo cổ cho thấy rằng có thể thép đã từng được chế tạo tại đây trước khi nó phát triển ở Châu Âu.

Các vùng lưu vực ven sông trở thành những cái nôi của những nền văn minh đầu tiên như lưu vực sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Nin ở Ai Cập, và lưu vực sông Ấn ở Pakistan. Một số dân tộc du mục, như những người Thổ dân Australia và thổ dân Nam Phi ở phía Nam Châu Phi, không biết tới nông nghiệp cho tới tận thời hiện đại.

Nhiều nhóm người không thuộc về các quốc gia trước 1800. Trong số những nhà khoa học, đã có sự bất đồng về thuật ngữ "bộ lạc" phải được sử dụng để miêu tả loại xã hội của những người sống trong đó. Những phần rộng lớn của thế giới có thể là lãnh thổ của những "bộ lạc" đó trước khi người Châu Âu bắt đầu tiến hành thực dân hoá. Nhiều "bộ lạc" chuyển thành quốc gia khi họ bị đe dọa hay bị ảnh hưởng bởi các quốc gia. Ví dụ như Marcomanni và Lát via. Một số "bộ lạc", như Kassites và Mãn Châu, chinh phục các quốc gia và lại bị chúng đồng hoá.

Nông nghiệp đã tạo cơ hội cho các xã hội phức tạp hơn, cũng được gọi là những nền văn minh. Các cuộc gia và các thị trường xuất hiện. Các kỹ thuật cải thiện khả năng của con người nhằm kiểm soát thiên nhiên và phát triển giao thông và thông tin.

Sự phát triển của tôn giáo

Đa số các nhà sử học truy nguyên sự khởi đầu của Đức tin tôn giáo ở thời Đồ đá mới. Đa số các đức tin tôn giáo thời kỳ này cốt ở sự thờ phụng một Đức mẹ nữ thần, một Cha bầu trời, và cũng có sự thờ phụng Mặt trời và Mặt trăng như các vị thần. (xem thêm sự thờ phụng Mặt trời)

Phát triển của văn minh

Quốc gia

Các biên giới vạch ra các quốc gia - một ví dụ cụ thể là Vạn Lý Trường Thành, trải dài hơn 6700 km, và lần đầu tiên được xây dựng vào Thế kỷ thứ 3 TCN để bảo vệ khỏi những kẻ chinh phục du mục từ phía bắc. Nó đã được xây dựng lại và phát triển thêm nhiều lần.

Nông nghiệp dẫn tới nhiều thay đổi lớn. Nó cho phép một xã hội đông đúc hơn rất nhiều, và nó tự tổ chức mình vào trong những quốc gia. Đã có nhiều định nghĩa được sử dụng cho thuật ngữ "quốc gia" Max Weber và Norbert Elias định nghĩa quốc gia là một tổ chức những người có một độc quyền về sự sử dụng hợp pháp vũ lực trong một vùng địa lý riêng biệt.

Những quốc gia đầu tiên xuất hiện ở Lưỡng Hà, Ai Cập cổ đại và lưu vực sông Ấn Độ vào cuối thiên niên kỷ thứ 4 và đầu thiên niên kỷ thứ ba TCN. Ở Lưỡng Hà, có nhiều thành bang. Ai Cập cổ đại khởi đầu là một quốc gia không có các thành phố, nhưng nhanh chóng sau đó các thành phố xuất hiện. Một quốc gia cần một quân đội để thực hiện việc sử dụng vũ lực hợp pháp. Một quân đội cần một bộ máy quan liêu để duy trì nó. Ngoại trừ duy nhất là trường hợp văn minh lưu vực sông Ấn Độ vì thiếu bằng chứng về một lực lượng quân sự.

Các quốc gia đã xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối thiên niên kỷ thứ ba đầu thiên niên kỷ thứ hai TCN. Các cuộc chiến tranh lớn nổ ra giữa các quốc gia ở Trung Đông. Hiệp ước Kadesh, một trong những hiệp ước hòa bình đầu tiên, được ký kết giữa người Hittites và Ai Cập cổ đại kh.1275 TCN. Các đế chế lớn bắt đầu chinh phục các vùng xung quanh vốn được cai trị bởi các bộ lạc, như Ba Tư (thế kỷ thứ 6 TCN), đế chế Maurya (thế kỷ thứ 4 TCN), Trung Quốc (thế kỷ thứ 3 TCN), và Đế chế La Mã (thế kỷ thứ 1 TCN).

Bản đồ thế giới khoảng năm 1200

Đụng độ giữa các đế chế diễn ra vào thế kỷ thứ 8, khi khalip của Ả Rập (cai trị từ Tây Ban Nha đến Iran) và nhà Đường bên Trung Quốc (cai trị từ Triều Tiên) đã đánh nhau trong hàng thập kỷ để giành quyền kiểm soát Trung Á. Đế chế rộng lớn nhất là đế chế Mông Cổ vào thế kỷ thứ 13. Lúc ấy, đa số người dân ở Châu Âu, Châu Á, Bắc Phi đều thuộc vào các quốc gia. Cũng có các quốc gia ở Mexico và tây Nam Mỹ. Các quốc gia tiếp tục kiểm soát ngày càng nhiều vùng lãnh thổ và dân chúng trên thế giới; vùng đất cuối cùng chưa có quốc gia bị các quốc gia chia sẻ với nhau theo Hiệp ước Berlin năm (1878).

Thành phố và thương mại

Nông nghiệp cũng tạo nên và cho phép sự tích trữ lương thực thặng dư có thể dùng để cung cấp cho những người không dính dáng trực tiếp tới việc sản xuất lương thực. Sự phát triển của nông nghiệp cho phép sự xuất hiện của những thành phố đầu tiên. Chúng là những trung tâm của quốc gia và hầu như không tự mình sản xuất ra lương thực. Các thành phố là những kẻ ăn bám và được cung cấp lương thực từ những vùng nông thôn xung quanh, nhưng trái lại nó cung cấp sự bảo vệ quân sự ở nhiều mức độ khác nhau.

Sự phát triển của các thành phố dẫn tới cái được gọi là văn minh: đầu tiên Văn minh Sumerian ở hạ Lưỡng Hà (3500 TCN), tiếp theo là văn minh Ai Cập dọc sông Nin (3300 TCN) và nền văn minh Harappan ở lưu vực sông Ấn (3300 TCN). Đã có bằng chứng về những thành phố phức tạp với những mức độ xã hội cao và nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, những nền văn minh này khá khác biệt so với nhau bởi vì chúng hầu như có nguồn gốc độc lập. Chính ở thời gian này chữ viết và thương mại ở tầm rộng bắt đầu xuất hiện.

Tại Trung Quốc, những xã hội tiền thành thị có thể đã phát triển từ 2500 TCN, nhưng triều đình đầu tiên được khảo cổ học xác định là nhà Thương. Thiên niên kỷ thứ 2 TCN chứng kiến sự nổi lên của nền văn minh ở Crete, lục địa Hy Lạp và trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Châu Mỹ, các nền văn minh như Maya, Moche và Nazca nổi lên ở Mesoamerica và Peru vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 TCN. Những đồng tiền xu đã được sử dụng ở Lydia.

Những con đường thương mại tầm xa xuất hiện lần đầu thiên niên kỷ thứ 3 TCN, khi những người Sumerians ở Lưỡng Hà buôn bán với nền văn minh Harappan ở lưu vực sông Ấn. Những con đường thương mại cũng xuất hiện ở phía đông Địa Trung Hải vào thiên niên kỷ thứ 4 TCN. Con đường tơ lụa giữa Trung Quốc và Syria bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 2 TCN. Các thành phố ở Trung Á và Ba Tư là nơi ngã ba đường của những con đường thương mại đó. Các nền văn minh Phoenician và Hy Lạp đã lập ra các đế chế ở lưu vực Địa Trung Hải vào thế kỷ thứ 1 TCN dựa trên thương mại. Người Ả Rập thống trị các con đường thương mại ở Ấn Độ Dương, Đông Á, và Sahara vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 và đầu thiên niên kỷ thứ 2. Những người Ả Rập và Do Thái cũng thống trị thương mại ở Địa Trung Hải vào cuối thiên niên kỷ thứ 1. Người Ý chiếm vai trò này vào đầu thiên niên kỷ thứ 2.

Các thành phố người Flemish và Đức nằm ở trung tâm các con đường thương mại ở Bắc Âu vào đầu thiên niên kỷ thứ 2. Ở mọi vùng, các thành phố chính phát triển ở những ngã ba đường dọc theo những con đường thương mại.

Tôn giáo và Triết học

Những triết học và tôn giáo mới xuất hiện ở cả phía đông và phía tây, đặc biệt là vào khoảng thế kỷ thứ 6 TCN. Cùng với thời gian, một tập hợp đa dạng các tôn giáo phát triển trên thế giới, với Hindu giáo và Phật giáo ở Ấn Độ, Hỏa giáo ở Ba Tư là một trong số những đức tin lớn và sớm nhất. Ở phía đông, ba trường phái tư tưởng ngự trị Trung Quốc cho đến tận ngày nay. Chúng gồm Đạo giáo, Pháp gia, và Khổng giáo. Truyền thống Khổng giáo, sau này đạt được vị trí thống trị, không tìm cách tăng cường luật pháp, mà là tìm kiếm quyền lực và những tấm gương truyền thống cho đạo đức chính trị. Ở phía tây, truyền thống triết học Hy Lạp, được thể hiện qua các tác phẩm của Plato và Aristotle, đã được truyền bá ra khắp Châu Âu và Trung Đông qua các cuộc chinh phục của Alexandros Đại Đế vào thế kỷ thứ 4 TCN.

Những vùng và những nền văn minh lớn

Tới những thế kỷ cuối cùng TCN, vùng Địa Trung Hải, sông Hằng và sông Dương Tử đã trở thành khu vực phát sinh của các đế chế mà các nhà cai trị về sau này sẽ phải tìm cách học tập. Trong lịch sử Ấn Độ, đế chế Maurya cai trị đa phần tiểu lục địa Ấn Độ, trong khi người Pandyas cai trị phần nam Ấn Độ. Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần và nhà Hán đã mở rộng sự cai trị của đế quốc thông qua sự thống nhất chính trị, cải thiện thông tin và nổi tiếng nhất là việc thành lập nhà nước độc quyền của vua Hán Quang Vũ. Ở phía tây, những người La Mã bắt đầu mở rộng lãnh thổ của mình thông qua các cuộc chinh phục và thực dân hóa từ thế kỷ thứ 3 TCN. Dưới thời cai trị của Hoàng đế Augustus, khoảng thời điểm ra đời của Jesus xứ Nazareth, La Mã kiểm soát mọi vùng đất bao quanh Địa trung hải.

Các đế quốc vĩ đại dựa trên khả năng khai thác quá trình sáp nhập thông qua quân sự và việc thành lập những vùng định cư được bảo vệ để trở thành những trung tâm nông nghiệp. Hòa bình mà họ mang lại thúc đẩy thương mại quốc tế, mà nổi tiếng nhất là sự phát triển của con đường tơ lụa. Họ cũng phải đối mặt với các vấn đề thông thường, như những vấn đề liên quan tới việc duy trì những đội quân đông đảo và ủng hộ một chế độ quan liêu trung tâm. Các chi phí đó đều đổ lên đầu nông dân, trong khi những lãnh chúa đất ngày càng trốn tránh quyền kiểm soát từ trung ương và cũng không chịu nộp thuế cho nhà nước. Áp lực của các bộ lạc du mục ở biên giới cũng đẩy nhanh quá trình tan rã từ bên trong. Đế chế Hán rơi vào nội chiến năm 220, trong khi Đế quốc Roma bắt đầu giảm tập trung hóa và cũng bị phân chia vào thời gian đó.

Trên các vùng khí hậu ở Âu Á, Châu Mỹ và Bắc Phi, các đế quốc lớn tiếp tục nổi lên và sụp đổ.

Sự tan rã dần dần của đế chế La Mã, đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, từ sau thế kỷ thứ 2, trùng khớp với sự mở rộng của Đạo cơ đốc về phía tây từ Trung Đông. Phần phía tây của Đế chế Roma rơi vào tay của nhiều bộ lạc người Đức vào thế kỷ thứ 5, và những xã hội đó dần phát triển thành một số chiến quốc, tất cả đều liên kết với Nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã theo cách này hay cách khác. Phần còn lại của đế chế La Mã ở phía đông Địa Trung Hải từ đó được gọi là đế chế Byzantine. Nhiều thế kỷ sau, một sự hợp nhất có giới hạn đã phục hồi lại tây Âu thông qua sự thành lập đế chế La Mã thần thánh, gồm một số quốc gia hiện thuộc Đức và Ý.

Tại Trung Quốc, các triều đại nổi lên rồi lại sụp đổ giống như nhau. Những người du mục từ phía bắc bắt đầu xâm chiếm từ thế kỷ thứ 4, cuối cùng chinh phục hầu như toàn bộ miền bắc Trung Quốc và lập nên nhiều tiểu quốc. Nhà Tuỳ tái thống nhất Trung Quốc năm 581, và dưới thời nhà Đường (618-907) Trung Quốc lần thứ hai trải qua thời cực thịnh của họ. Tuy nhiên, nhà Đường cũng tan vỡ và, sau khoảng nửa thế kỷ hỗn loạn, nhà bắc Tống thống nhất Trung Quốc năm 982. Tuy nhiên, áp lực từ các quốc gia du mục phía bắc ngày càng cấp bách. Toàn bộ miền bắc Trung Quốc rơi vào tay người Nữ Chân năm 1141 và đế quốc Mông Cổ đã chinh phục toàn bộ Trung Quốc năm 1279, cũng như hầu như toàn bộ vùng Âu Á, chỉ còn lại vùng tây Âu và trung Âu, Nhật Bản và Đông Nam Á- hoặc là lệ thuộc như Cao Ly hoặc là đánh thắng như Việt Nam.

Miền bắc Ấn Độ được cai trị bởi đế chế Gupta vào thời đó. Ở miền nam Ấn, ba vương quốc của bật của người Tamil xuất hiện, là Chera, Chola, và Pallava. Sự ổn định tiếp sau đó góp phần báo trước thời đại hoàng kim của văn hoá Hindu vào thế kỷ thứ 4 và thế kỷ thứ năm 5 .

Tàn tích của Machu Picchu, "thành phố đã biến mất của người Incas," đã trở thành một biểu tượng được công nhận của nền văn minh Inca.

Các xã hội rộng lớn cũng bắt đầu được dựng lên ở Trung Mỹ vào thời kỳ đó, người Maya và người Aztecs ở Mesoamerica là những xã hội phát triển nhất. Khi nền văn hoá nguyên gốc của người Olmecs dần tàn lụi, các thành bang lớn của người Maya chậm rãi vượt lên cả về số lượng và tầm ảnh hưởng, và văn hoá Maya phát triển ra khắp Yucatán và các vùng xung quanh. Đế chế về sau này của người Aztec được xây dựng trên những nền văn hoá láng giềng và bị ảnh hưởng từ những dân tộc đã bị chinh phục, như người Toltec.

Nam Mỹ chứng kiến sự trỗi dậy của người Inca vào thế kỷ thứ 14 và thế kỷ thứ 15. Đế chế Inca ở Tawantinsuyu trải dài ra toàn bộ vùng Andes và có thủ đô ở Cusco. Inca thời ấy rất thịnh vượng và tiến bộ, được biết tới nhờ hệ thống đường xá Inca tuyệt vời và các công trình xây dựng lớn.

Đạo hồi, khởi đầu từ vùng Ả rập vào thế kỷ thứ 7, cũng là một trong những lực lượng đáng chú ý nhất trong lịch sử thế giới, từ khởi đầu với một số ít tín đồ nó đã trở thành nền tảng cơ bản của nhiều đế chế rộng lớn tại Ấn Độ, Trung Đông và Bắc Phi.

Ở Đông Bắc Phi, Nubia và Ethiopia, cả hai nước từ lâu đã có quan hệ với vùng Địa trung hải, vẫn thuộc ảnh hưởng của Đạo thiên chúa trong khi phần còn lại của Châu Phi phía bắc đường xích đạo đã đổi sang Hồi giáo. Cùng với Hồi giáo là những kỹ thuật mới đã lần đầu tiên cho phép thương mại chính yếu vượt qua Sahara. Nguồn thuế từ thương mại đó dẫn tới sự thịnh vượng ở Bắc Phi và sự nổi lên của nhiều vương quốc vùng Sahel.

Thời kỳ này được ghi dấu bởi sự cải tiến kỹ thuật chậm chạp nhưng chắc chắn, với những sự phát triển có tầm ảnh hưởng quan trọng như bàn đạp yên ngựa và bừa (mouldboard plough) xuất hiện cách nhau chỉ vài thế kỷ.