Tài liệu

Tiếng Việt 6 - Bài 0: Mở đầu - Tiếng nói và chữ viết

Social Sciences

 Bài mở đầu

Tiếng nói và chữ viết

Một quy trình khác để được làm mà học

       Bộ sách giáo khoanày tiếp nối bộ sáchTiếng Việt (và Văn) bậc Tiểu học của nhóm Cánh Buồm. Tinh thần của cả bộ sách từ Tiểu học nối lên Trung họccơ sở làgiúp học sinh am tường tiếng Việt và dùng tiếng Việt thành thạo.

       Thế nào là am tường tiếng Việt? Đó là người học hết lớp Chín phải có sự am hiểu tiếng Việt về mặt ngôn ngữ học. Không phải cứ là người Việt thì đã đủ để biết tiếng Việt. Đó mới chỉ là sự “biết tiếng Việt” bằng kinh nghiệm, chưa là sự am tường tiếng nói đó bằng khoa học ngôn ngữ. Sự am tường còn phải nhờ vào họcvà hiểu kỹ lưỡng tiếng Việt về các mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp,văn bản.

       Thế nào là dùng tiếng Việt thành thạo? Đó là người học hết lớp Chín phải dùng tốt tiếng Việt vào các hoạt động sản xuất, học tập, và chung sống trong cộng đồng. Ví dụ, năng lực dùng tiếng Việt tối thiểu của một học sinh hết lớp Chín đi làm để tự nuôi sống mình: phải đủ để nhận nhiệm vụ sản xuất, báo cáo kết quả sản xuất, đọc được tài liệu huấn luyện để tự nâng cao tay nghề, lại phải cùng sống chung, cùng học hỏi và đoàn kết với những đồng đội nói phương ngữ khác mình...

       Giữa bộ sách Tiếng Việtnày của nhóm Cánh Buồm (từ bậc Tiểu học đến hết bậc Trung họccơ sở) so với tất cả các bộ sách cùng loại đã có, chỗ khác nhau duy nhất là ở sự tập trung vào cách học.

       Cách học, theo định nghĩa của nhóm Cánh Buồm, là cách làm ra sản phẩm. Nhấn mạnh vào cách học như vậy, là không giảng giải nhồi nhét và bắt người học ghi nhớ thuộc lòng. Nhấn mạnh vào cách học, là tổ chức các việc làm cho học sinh thực hiện –đường lối đógọi bằng LÀM MÀ HỌC.       

       Trên tinh thầnđó,quyển Tiếng Việt lớp Một có nội dunglà những việc làm để học sinh tự đến với Ngữ âm học. Những việc làm này giúp trẻ em tự phát âm, tự phân tích để đạt mứcam tường ngữ âm tiếng Việt, do đó mà thành thạo khi tự ghi đúng và tự đọc đúng tiếng Việt – hơn thế, còn biết đọc thầm tiếng Việt.

       Tiếp tục cách họcđó, lênlớp Hai, sẽ có những việc làm để giúp học sinh tự khám phá Từ vựng học tiếng Việt. Lên lớp Ba, sẽ là Cú pháp học. Lênlớp Bốn, là Văn bản học tiếng Việt. Và lên lớp Năm, sẽ là Dụng pháp tiếng Việt, với những việc làm để ứng dụng các tri thức cơ bản về ngữ âm, từ vựng, cú pháp, văn bản vào ba kiểu hoạt động ngôn ngữ trong đời sống, đó là ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, và ngôn ngữ giao tiếp.

       Một năng lực ngôn ngữ như thế sẽ giúp học sinh lên lớp Sáu có cách học khác: tự học và tự mình dùng cách học (phương pháp học) đã được rèn luyện qua năm năm tiểu học để khám phá những tri thức mới, cần cho việc vào đời sau khi học xong lớp Chín.

Ngữ âm và chữ viết

       Vẫn tiếp tục quy trình đã làm ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt lớp Sáu sẽ đưa học sinh trở lại chủ đề Ngữ âm tiếng Việt và học nâng cao vào những cách ghi âm tiếng nói đó. Nội dung và ý nghĩa các bài theo chủ đề Ngữ âm – Cách ghi âm cho ta biết tiếng nói của dân tộc đã từng được ghi âm như thế nào trong lịch sử. Và cùng thấy cách ghi tiếng Việt ảnh hưởng thế nào tới sự phát triển của đất nước.

       Ta nên biết vì sao lên lớp Sáu, chúng ta cho học sinh quay trở lại học ngữ âm tiếng Việt nhưng ở một trình độ khác – học về lịch sử của việc ghi âm tiếng Việt mẹ đẻ của mình.

       Việc nghiên cứu này rất quan trọng. Nó cho chúng ta biết dân tộc ta đã có chữ viết như thế nào. Công việc có chữ viết thể hiện một trình độ văn minh của một cộng đồng. Trước khi có chữ viết, khi mới chỉ có tiếng nói để giao tiếp với nhau, thì cộng đồng cũng đã tiến được một bước dài thoát khỏi cuộc sống mông muội. Nhưng đến khi có chữ viết, có thể nói tổ tiên chúng ta đã có một bước nhảy quan trọng không khác mấy so với việc loài người tìm ra lửa.

       Riêng một việc nhờ có lửa giúp làm chín thức ăn khiến con người đỡ phải nhai thịt sống, một việc đã làm giảm phát triển các cơ trên thái dương, trên mặt, đỡ bó ép chặt hộp sọ, do đó mà cũng mở đường cho não phát triển hơn. Việc có chữ viết cũng thế: nó làm rút ngắn khoảng cách giữa người với người, nó mở ra rất rộng phạm vi hợp tác giữa người với người, và sức mạnh cộng đồng do đó cũng tăng lên.

       Vậy là, nội dung lớp Sáu sẽ dẫn học sinh đi từ cách ghi âm tiếng Việt bằng chữ Hánvà chữ Nôm. Đầu tiên, tiếng Việt được ghi bằng chữ Hán của người Trung Hoa và được đọc lên bằng tiếng Việt. Tiếp đó, cha ông chúng ta đã nghĩ ra chữ Nôm để ghi tiếng Việt. Những chữ ghi âm bằng chữ Hán và chữ Nôm đều có nhược điểm. Xu thế sẽ dẫn đến việc học chữ quốc ngữ làcách ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin. Ở đây, các em cũng cần học để biết công lao những người đi tiên phong phổ biến chữ quốc ngữ, mà tiêu biểu là Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Và, muốn cho học sinh hết lớp Chín đã có thể vào đời (khi đó các em sẽ tiếp xúc với nhiều thành phần dân tộc các vùng miền), nên các em cũng cần hiểu cách ghi đúng những âm địa phương phát ra “lệch chuẩn”, cũng như cách ghi âm tiếng nước ngoài, những điều không thể thiếu trên con đường phát triển và hội nhập với loài người.

       Sách Tiếng Việt lớp Sáu cũng mở rộng tầm nhìn cho học sinh sang hai nước láng giềng Nhật Bản và Hàn Quốc để xem hai nước này đã tạo bộ chữ quốc ngữ riêng của họ ra sao. Cùng nằm trong vành đai Hán ngữ[1], song ba nước Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc đã tìm cách thoát ra bằng bộ chữ riêng để tiếng nói dân tộc mình không còn lệ thuộc vào cách ghi âm bằng chữ Hán nữa. Đó là điều cần học.

Tổ chức cách học

       Kể từ lớp Sáu, việc học sẽ diễn ra theo từng vấn đề, chứ không học cắt xén theo từng tiết học lẻ tẻ. Từng trường và từng lớp nên được giao quyền chủ động xếp lịch học để hoàn thành từng nội dung gọn trong một thời gian nhất định.

       Phương thức học tập xuyên suốt sẽ là tự học, được thực hiện qua những cách làm sau:

       (a) Bài tự đọc mang tính đề dẫn; giáo viêncó thể hỗ trợ bằng cách giới thiệu nội dung trước khi học sinh tự đọc;

       (b) Tự trả lời câu hỏi; giáo viên sẽ yêu cầu học sinh viết câu trả lời bằng đoạn văn năm câu để kiểm soát và biết kết quả làm việc của học sinh;

       (c) Trình bày trước lớp các câu trả lời tự chuẩn bị; giáo viên theo dõi và kiểm soát việc thảo luận này diễn ra theo từng nhóm nhỏ;

       (d) Từng học sinh viết tiểu luận thu hoạch của riêng mình; đây là cách thức tự đánh giá của học sinh; tuy nhiên giáo viên cũng nên kiểm soát từ xa việc làm này của các em;

       (e) Tổ chức hội thảo; giáo viên giúp học sinh thống nhất chủ đề của từng cuộc hội thảo khoa học;

       (g) Cùng chọn bài tiểu luận hay để in vào kỷ yếu kết thúc một chương mục.

       Theo hướng đi này, lên lớp Bảy, học sinh sẽ trở lại chủ đề Từ và Từ vựng tiếng Việt đã học từ lớp Hai và sẽ đi sâu vào những nội dung liên quan đến từ, ngữ, từ thuần Việt, từ nguyên, từ Hán–Việt, từ mượn và từ vựng tiếng Việt.

       Tiếp theo, chủ đề học tiếng Việt ở lớp Tám sẽ là những Cách biểu đạt ngôn ngữ. Đó là những cách biểu đạt bắt gặp thường ngày bằng ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ chính trị – xã hội và pháp lý.

       Lên lớp Chín, sẽ tập trung vào chủ đề Ngôn ngữ và Tư duy, điều tổng kết quan trọng cho hành trang vào đời của thanh thiếu niên theo những cách vào đời khác nhau – lao động để kiếm sống, học trường nghề, học lên cấp cao hơn. Cả ba con đường vào đời đều đòi hỏi một trình độ tư duy bằng tiếng Việt chính xác và phong phú, hợp logic và uyển chuyển.

Trao đổi ở nhóm và ghi vào vở riêng

       1.Ghi bằng một câu về cách học ở bậc Phổ thông cơ sở.

       2.Nội dung học Tiếng Việt ở lớp Sáu gồm những gì?

       3.Bạn thấy công việc sắp tới như thế nào?

Dễ thực hiện Khó thực hiện Khó nhưng hấp dẫn

====================================================================================

[1] Gồm ba nước Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc bao quanh phía Nam và phía Đông của Trung Quốc, vốn dùng chữ Hán như là chữ viết của mình

 

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự