Tài liệu

tin học

Business

https://www.dropbox.com/s/q7giprznpbu8egn/OER-Book.pdf?dl=1

Tài liệu này được chia sẻ với các điều khoản của ="http://creativecommons.org/licenses/by-sa/4.0/">giấy phép Creative Commons Attribution-ShareAlike 4.0 Quốc tế </a>.

Tổng quan về tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources) và một kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam - Phần 1

Lê Trung Nghĩa, letrungnghia.foss@gmail.com

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ Mở,

Bộ Khoa học và Công nghệ,

Bài viết cho và có trong kỷ yếu Hội thảo quốc tế 'Xây dựng nền tảng học liệu mở cho giáo dục đại học Việt Nam: đề xuất chính sách, tạo lập cộng đồng và phát triển giải pháp công nghệ', đã diễn ra vào ngày 29/12/2015, tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội;  

Nhấn vào đây để tải về 'Kỷ yếu hội thảo'Nhấn vào ảnh để xem kích cỡ lớn hơn

Phần 1 - Lời mở đầu và các khái niệm cơ bản về OER

Mục lục:

Phần 1 - Lời mở đầu và các khái niệm cơ bản về OER

Phần 2 - Hệ thống giấy phép và khía cạnh công nghệ của OER

Phần 3 - Các khía cạnh khác của OER và kịch bản giả tưởng cho giáo dục Việt Nam

Tài nguyên giáo dục mở - OER (Open Educational Resources) là một vấn đề mới và không dễ để hiện thực hóa trong cuộc sống, nhất là trong điều kiện cụ thể hiện nay trong khu vực giáo dục của Việt Nam. Bài viết này không có ý định đi sâu vào bất kỳ khía cạnh nào trong việc sử dụng và sáng tạo OER, mà có ý định để khêu gợi ra nhiều nhất có thể các khía cạnh chính có liên quan tới hệ sinh thái OER để từ đó các độc giả có quan tâm tới sử dụng và sáng tạo OER có thể có được các tham chiếu ban đầu cho việc nghiên cứu, khảo sát, triển khai vào thực tế OER dần từng bước trong các cơ sở giáo dục của Việt Nam, hòa nhập được xu thế giáo dục mở hiện nay của thế giới.

Sự khởi đầu

Tài nguyên giáo dục mở (OER) được cho là đã tồn tại được hơn 10 năm qua trên thế giới, kể từ khi một trường đại học ở Đức đã xuất bản một loạt video bài giảng của trường lên trực tuyến vào tháng 1/1999 hoặc nổi bật hơn khi Viện Công nghệ Massachusette (MIT) ở Mỹ đã đưa lên mạng bộ 32 khóa học của trường vào tháng 9/2002 với cái tên mà sau nay đã trở nên nổi tiếng, OpenCourseware, hay khóa học mở.

Khái niệm 'tài nguyên giáo dục mở' lần đầu tiên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc - UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) đưa ra tại Diễn đàn 2002 về Khóa học mở (2002 Forum on OpenCourseware).

A. Những khái niệm cơ bản

Trước khi đề cập tới định nghĩa thế nào là tài nguyên giáo dục mở, chúng ta sẽ đề cập tới định nghĩa một khái niệm khác, bao trùm hơn, khái niệm về 'Giáo dục mở'.

1. Định nghĩa giáo dục mở

Wikipedia định nghĩa giáo dục mở như sau: “Giáo dục mở là một khái niệm tổng hợp mô tả các thực hành và các sáng kiến với các chương trình của các cơ sở giáo dục mà mở rộng sự truy cập tới việc học tập và huấn luyện được chào theo truyền thống qua các hệ thống giáo dục chính quy. Tính “mở” của giáo dục tham chiếu tới sự loại bỏ các rào cản có thể loại trừ các cơ hội và sự công nhận để tham gia vào việc học tập trong các cơ sở giáo dục. Một khía cạnh của tính mở trong giáo dục hoặc “việc mở” giáo dục ra là sự phát triển và áp dụng các tài nguyên giáo dục mở”.

Còn website của Bộ Giáo dục Mỹ nói về giáo dục mở như sau: “Chúng tôi tin tưởng rằng các cơ hội giáo dục nên là sẵn sàng cho tất cả những người học. Việc tạo ra một hệ sinh thái giáo dục mở có liên quan tới việc tạo ra các tư liệu, dữ liệu học tập và các cơ hội giáo dục sẵn sàng mà không có các hạn chế được các luật bản quyền, các rào cản truy cập, hoặc các hệ thống sở hữu độc quyền đặt ra làm cho thiếu tính tương hợp và hạn chế sự trao đổi thông tin một cách tự do”.

2. Định nghĩa tài nguyên giáo dục mở

Có vài  định nghĩa về OER . Tất cả chúng đều toát lên một đặc tính chung nổi bật, đó là các tài nguyên giáo dục được cấp phép mở, và vì thế tuân thủ các luật bản quyền hiện hành.

UNESCO định nghĩa OER là “các tư liệu học, dạy và nghiên cứu trong bất kỳ phương tiện nào, dù là số hay không, mà nằm trong miền công cộng hoặc từng được phát hành theo một giấy phép mở, cho phép những người khác truy cập, sử dụng, tùy biến thích nghi và phân phối lại không mất chi phí, dù có hay không những hạn chế có giới hạn. Việc cấp phép mở được xây dựng trong khuôn khổ các quyền sở hữu trí tuệ đang tồn tại như được các quy ước quốc tế thích hợp xác định và tôn trọng tác giả của tác phẩm”.

Tổ chức về Phát triển và Hợp tác Kinh tế - OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) định nghĩa OER như là: “các tư liệu số hóa được chào tự do và mở cho các nhà giáo dục, các học sinh, và những người tự học để sử dụng và sử dụng lại cho việc học, dạy, và nghiên cứu. OER bao gồm nội dung học tập, các công cụ phần mềm để phát triển, sử dụng, và phân phối nội dung, và các tài nguyên triển khai như các giấy phép mở”.

Gần đây nhất, ngày 29/10/2015, Bộ Giáo dục Mỹ đã đưa ra định nghĩa OER trên website của mình khi phát động chiến dịch khuyến khích các trường học 'Đi với Mở' (#GoOpen) bằng các tài nguyên giáo dục như là: “Các tài nguyên giáo dục được cấp phép mở là các tư liệu học tập có thể được sử dụng cho việc dạy, học và đánh giá mà không có chi phí. Chúng có thể được sửa đổi và được phân phối lại mà không vi phạm các luật bản quyền”.

3. Khái niệm về tính mở

 

Hình 1.  Các khía cạnh của tính mở

Chúng ta đang nói về tài nguyên giáo dục mở và cấp phép mở hay giấy phép mở. Vậy khái niệm 'MỞ' hay 'tính mở' ở đây có nghĩa gì? Hình 1 trả lời cho chúng ta câu hỏi này.

Tính mở có những khía cạnh khác nhau. Trong các lĩnh vực khác nhau, chúng có những đặc tính khác nhau tương xứng, cụ thể như:

Trong lĩnh vực xã hội, tính mở ngụ ý được:

Tự do sử dụng

Tự do đóng góp, và

Tự do chia sẻ

Trong lĩnh vực kỹ thuật, tính mở đề cập tới:

Các chức năng. Để một chức năng kỹ thuật nào đó sử dụng được trong mọi hệ thống nền tảng kỹ thuật công nghệ khác nhau, cần có tính tương thích và/hoặc tương hợp giữa các hệ thống nền tảng khác nhau đó. Về cả lý thuyết và trong thực tế, tính tương thích và/hoặc tương hợp giữa các hệ thống nền tảng khác nhau có thể đạt được bằng việc sử dụng các tiêu chuẩn mở. Ví dụ, sử dụng tiêu chuẩn mở trong các tài liệu (như Định dạng Tài liệu Mở - ODF [Open Document Format]) sẽ giúp cho tài liệu được tạo ra không bị phụ thuộc vào phần mềm tạo ra chính tài liệu đó.

Phát triển. Để phát triển hay tạo ra, ví dụ, một tài nguyên giáo dục mở dùng trong một bài giảng hay một khóa học mở, sao cho tài nguyên đó không bị phụ thuộc vào bất kỳ hệ thống nền tảng nào, không phụ thuộc vào bất kỳ nhà cung cấp nào về mặt kỹ thuật công nghệ, bạn hãy sử dụng các phần mềm nguồn mở để tạo ra chúng. Ví dụ, sử dụng bộ phần mềm các công cụ văn phòng nguồn mở LibreOffice và/hoặc OpenOffice để tạo ra các tài liệu văn bản, bảng tính hoặc trình chiếu như là các tài nguyên giáo dục mở để sử dụng trong các khóa học mở.

Đặc tính nguồn tài nguyên. Các tài nguyên mở có thể ở dạng:

Các hàng hóa công cộng. Bất kỳ ai cũng có khả năng sử dụng chúng. Ví dụ, bất kỳ ai cũng có thể sử dụng các bộ phần mềm các công cụ văn phòng nguồn mở như được nêu ở trên, hoặc vô số các tài nguyên giáo dục mở, các khóa học mở có trên Internet hiện nay.

Nguồn của các hàng hóa mở. Ví dụ, vì các tài nguyên giáo dục mở đều có các giấy phép mở đi kèm, vì thế cho phép những người sử dụng được tùy biến thích nghi nội dung của tài nguyên đó để tạo ra các sản phẩm mới. Các sản phẩm mới này lại có khả năng được những người sử dụng khác tùy biến thích nghi để tiếp tục lại tạo ra những sản phẩm mở mới khác, và cứ tiếp tục lặp đi lặp lại như thế.

Để nắm được rõ hơn những ảnh hưởng của tính mở lên giáo dục đại học, hãy tham khảo tài liệu 'Tóm tắt chính sách - Tính mở ảnh hưởng tới giáo dục đại học như thế nào' của các tác giả Neil Butcher và Sarah Hoosen thuộc Viện UNESCO về Công nghệ Thông tin trong Giáo dục (UNESCO IITE) xuất bản năm 2014. Tài liệu này đề cập tới các khái niệm cơ bản như: (1) Hiểu về tính mở; (2) Hiểu về 'MỞ' trong giáo dục; (3) Tính mở ảnh hưởng như thế nào tới thực hành của việc dạy và học; (4) Ảnh hưởng của tính mở lên nghiên cứu; (5) Ảnh hưởng của tính mở lên chính sách giáo dục đại học; (6) Kết luận (về ảnh hưởng của tính mở lên giáo dục đại học).

4. Các nguyên tắc cơ bản của OER

Các nguyên tắc cơ bản của OER cũng là các nguyên tắc của xuất bản mở. Một số người cho rằng có 5 nguyên tắc cơ bản, trong khi một số khác chỉ nêu 4 trong 5 nguyên tắc đó, thường chúng được gọi là 4R hoặc 5R vì chúng đều bắt nguồn từ các ký tự đầu R trong tiếng Anh. Ở đây, chúng ta sẽ nêu 5 nguyên tắc, đó là:

  1. Reuse - Sử dụng lại: mức cơ bản nhất về tính mở. Mọi người được phép sử dụng tất cả hoặc một phần tác phẩm cho các mục đích của riêng họ (ví dụ, tải về video giáo dục để xem vào thời gian rỗi);
  2. Redistribution - Phân phối lại: mọi người có thể chia sẻ tác phẩm với những người khác (ví dụ, gửi một bài báo số bằng thư điện tử cho đồng nghiệp);
  3. Revise - Làm lại: mọi người có thể tùy biến thích nghi, sửa đổi, dịch, hoặc thay đổi tác phẩm (ví dụ, lấy một cuốn sách tiếng Anh và dịch nó sang tiếng Việt);
  4. Remix - Pha trộn: lấy 2 hoặc nhiều tài nguyên đang tồn tại và kết hợp chúng để tạo ra 1 tài nguyên mới (ví dụ, lấy các bài giảng tiếng nói từ khóa học này và kết hợp chúng với các slide từ khóa học khác để tạo ra tác phẩm phái sinh mới);
  5. Retain - Giữ lại: Không có các hạn chế quản lý các quyền số - DRM (Digital Rights Management); nội dung là của bạn để giữ, bất kể bạn là tác giả, giáo viên hay sinh viên đang sử dụng tư liệu đó.

Để có thói quen chia sẻ dùng chung các tài nguyên giáo dục là một việc không dễ, nhưng để nhận biết và sử dụng có chủ ý OER theo đủ các nguyên tắc của nó còn khó hơn nhiều, ngay cả trong khu vực giáo dục.

5. Các thách thức sư phạm của OER

Dưới đây liệt kê các thách thức sư phạm mà từng giáo viên, nhà giáo dục, gia sư, nhà nghiên cứu có thể cân nhắc trong thực hành giáo dục của mình với OER:

  1. Nhận thức đúng về OER và có khả năng định vị tìm kiếm OER
  2. Tìm kiếm có chủ đích OER để chia sẻ với những đồng nghiệp khác
  3. Chỉ sử dụng lại OER như nó hiện đang có (sao chép để sử dụng)
  4. Làm lại OER (như tùy biến bằng việc dịch, thêm các ví dụ vào các OER có sẵn)
  5. Pha trộn OER (như việc kết hợp vài OER có sẵn để tạo thành một OER mới)
  6. Duy trì OER (như việc giữ lại các bản sao hợp pháp của tư liệu)
  7. Phân phối lại OER (như việc chia sẻ cởi mở với những người khác)

Chúng ta đang khuyến cáo các tác nhân khác nhau trong khu vực giáo dục làm việc với OER. Một câu hỏi được đặt ra là: vì sao lại là OER hay OER có thể mang lại lợi ích gì?

6. Vì sao nên sử dụng OER?

Một lần nữa, Bộ Giáo dục Mỹ khi phát động chiến dịch khuyến khích các trường học 'Đi với Mở' (#GoOpen) bằng OER vào ngày 29/10/2015, đã nêu trên website của mình, rằng OER có lợi cho các trường học, đặc biệt là chúng giúp:

  1. Gia tăng sự bình đẳng: Tất cả các sinh viên có sự truy cập tới các tư liệu học tập chất lượng cao với nội dung thích hợp & cập nhật nhất vì các OER có thể được phân phối tự do cho bất kỳ ai.
  2. Tiết kiệm tiền - Việc chuyển sang các OER cho phép các trường học tái mục đích tiền đầu tư cho các sách giáo khoa tĩnh vào các nhu cầu cấp bách khác, như việc đầu tư để chuyển sang học tập số. Trong một vài khu trường, việc thay thế chỉ một cuốn sách giáo khoa đã tiết kiệm hàng chục ngàn USD sẵn sàng cho các mục đích khác.
  3. Giữ cho nội dung thích hợp và chất lượng cao - các cuốn sách giáo khoa truyền thống bị lỗi thời vĩnh viễn, ép các khu trường tái đầu tư phần đáng kể ngân sách của họ vào việc thay thế chúng. Các điều khoản sử dụng các OER cho phép các nhà giáo dục duy trì chất lượng và sự thích hợp các tư liệu của họ nhờ các cập nhật liên tục.
  4. Trang bị cho các giáo viên - Các OER trang bị cho các giáo viên như những nhà chuyên nghiệp sáng tạo bằng việc trao cho họ khả năng tùy biến thích nghi các tư liệu học tập để đáp ứng được các nhu cầu của các sinh viên của họ mà không vi phạm các luật bản quyền.

Cũng như bất kể một vấn đề nào, đặc biệt với những điều mới mẻ như OER, sẽ không chỉ có những điểm mạnh với những điều lợi lộc, mà còn có cả những điểm yếu, không chỉ có những thách thức như được nêu ở trên với nhiều tác nhân khác nhau trong khu vực giáo dục, mà còn cả những cơ hội cho họ nữa.

Một phân tích các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức như vậy có thể tham khảo trong tài liệu nói về chiến lược OER của trường đại học Nam Phi trong giai đoạn 2014-2016. Cùng với phân tích đó là các biện pháp để hạn chế các điểm yếu và các thách thức, cũng như để phát huy những điểm mạnh và các cơ hội.

7. Các dạng giáo dục mở

Trong phần định nghĩa về giáo dục mở nêu trên, chúng ta đã thấy rằng OER chỉ là một dạng giáo dục mở. Bên dưới là liệt kê ngắn gọn, không có phân tích chi tiết, các dạng giáo dục mở, bao gồm cả OER:

  1. Tài nguyên giáo dục mở - OER, định nghĩa như được nêu ở trên.
  2. Giáo dục cho tất cả: giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học tự do hoặc chi phí rất thấp sẵn sàng cho bất kỳ ai trong một quyền tài phán đặc thù, thường trước hết được cấp tiền từ nhà nước;
  3. Truy cập mở tới các khóa học hoặc chương trình giáo dục: có hoặc không có tín chỉ; các khóa học trực tuyến mở đại chúng - MOOC (Massive Online Open Course) có thể là những ví dụ tốt.
  4. Sách giáo khoa mở: các sách giáo khoa được làm cho sẵn sàng tự do trên trực tuyến để những người học sử dụng.
  5. Nghiên cứu mở: theo đó các tài liệu nghiên cứu được làm cho sẵn sàng trên trực tuyến, có khả năng tải về tự do;
  6. Dữ liệu mở: dữ liệu được mở ra cho bất kỳ ai để sử dụng, sử dụng lại, và phân phối, chỉ tuân theo, nhiều nhất, yêu cầu ghi công cho (các) tác giả và chia sẻ.

Trong số các dạng giáo dục mở nêu ở trên, các dạng như OER, sách giáo khoa mở, các tài liệu nghiên cứu mở và dữ liệu mở đều có chung một đặc tính, là chúng đều mang theo một giấy phép mở hay giấy phép tư liệu mở, điều sẽ được trình bày dưới đây.

B. Hệ thống giấy phép tư liệu mở

Hệ thống giấy phép tư liệu mở có nguồn gốc từ nhu cầu về các tài liệu đi kèm với phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM). Người sử dụng không thể khai thác được bất kỳ chương trình phần mềm nào nếu không có các tài liệu đi kèm, thường tối thiểu là các tài liệu hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn cài đặt và/hoặc thiết lập hệ thống. Theo luật về sở hữu trí tuệ của Tây Ban Nha, chương trình phần mềm có mức độ tự do nào, thì tài liệu đi kèm với nó cần có mức độ tự do tương tự.

Từ nhu cầu này, có nhiều hệ thống giấy phép tự do - mở đã được thiết kế cho các tư liệu tự do - mở, điển hình là 2 hệ thống:

  1. Giấy phép Tài liệu Tự do GNU - GFDL (GNU Free Document License) và
  2. Creative Commons (CC).

Cũng có các hệ thống tư liệu tự do - mở khác. Tuy nhiên, GFDL và CC là 2 hệ thống được sử dụng nhiều, với GFDL thường được sử dụng cho các tài liệu đi kèm với các chương trình phần mềm máy tính, còn CC là chung cho tất cả các loại tư liệu (cả các tệp văn bản, hình ảnh, âm thanh, nghe nhìn), bao gồm cả các tư liệu đi với các chương trình phần mềm và là hệ thống giấy phép tư liệu tự do - mở được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.

Các giấy phép CC được xuất bản lần đầu vào năm 2002, sau hệ thống GFDL 2 năm, và phát triển rất nhanh. Tới tháng 11/2014 đã có khoảng 880 triệu tư liệu được cấp phép CC, còn trên trang chuyên dụng để lưu trữ ảnh tự do Flickr, cho tới tháng 3/2015 đã có 306 triệu ảnh chụp mang giấy phép CC.

Vì sự áp đảo của các giấy phép tư liệu tự do - mở CC trong thực tế sử dụng các tư liệu, đặc biệt là với các tài nguyên giáo dục mở - OER, tài liệu này sẽ chỉ đề cập tới hệ thống này.

Các hệ thống giấy phép tư liệu tự do - mở đều tuân thủ các khung pháp lý về sở hữu trí tuệ và có giá trị pháp lý trên toàn cầu. Chúng đưa ra cách thức thuận tiện, đặc biệt trong kỷ nguyên số (Digital Age) qua Internet, để sử dụng các tư liệu được cấp phép tự do - mở cho cả người sáng tạo và những người sử dụng.

  1. Đối với người sáng tạo: Khi sáng tạo ra một tác phẩm, người sáng tạo chủ động giữ lại một số quyền anh/chị ta muốn, cũng như trao một số quyền cho những người sử dụng tùy theo ý muốn của anh/chị ta.
  2. Đối với người sử dụng: Khi nhìn thấy bất kỳ tác phẩm nào ở dạng tệp số, được gắn các biểu tượng giấy phép tự do - mở CC - thường sẽ có đường liên kết dẫn về trang web của giấy phép CC được tác giả gắn cho tác phẩm đó - thì người sử dụng dễ dàng có khả năng lần theo đường liên kết đó để biết được các quyền của mình được tác giả trao để sử dụng tác phẩm, mà không cần phải xin phép tác giả.

Hệ thống CC có 4 yếu tố tùy chọn và từ đó có 6 giấy phép tiêu chuẩn, như trong Hình 2

 

 

 

 

Hình 2. Các yếu tố tùy chọn và các giấy phép CC tiêu chuẩn

 

4 yếu tố tùy chọn trong hệ thống giấy phép CC gồm:

  1. Ghi công (Attribution), ký hiệu là BY: Bạn cho phép những người khác sao chép, phân phối, hiển thị, và thực thi tác phẩm có bản quyền của bạn - và các tác phẩm phái sinh dựa vào nó - nhưng chỉ nếu họ thừa nhận cách mà bạn yêu cầu. Một số tài liệu chỉ rõ cách thức đúng phù hợp để ghi công cho các tác phẩm mang giấy phép CC.
  2. Phi thương mại (Non-Commercial), ký hiệu là NC: Bạn cho phép những người khác sao chép, phân phối, hiển thị, và thực thi tác phẩm của bạn - và các tác phẩm phái sinh dựa vào nó - nhưng chỉ cho các mục đích phi thương mại.
  3. Không có phái sinh (No Derivative), ký hiệu là ND: Bạn cho phép những người khác sao chép, phân phối, hiển thị, và thực thi chỉ các bản sao nguyên bản tác phẩm của bạn, không có các tác phẩm phái sinh dựa vào nó.
  4. Chia sẻ tương tự (ShareAlike), ký hiệu là SA: Bạn cho phép những người khác phân phối các tác phẩm phái sinh chỉ theo một giấy phép y hệt với giấy phép điều chỉnh tác phẩm của bạn.

Từ 4 yếu tố tùy chọn này, CC đưa ra 6 loại giấy phép khác nhau, cụ thể:

  1. Ghi công - Attribution - CC BY

Giấy phép này cho phép những người khác phân phối, pha trộn, tùy biến, và xây dựng dựa vào tác phẩm của bạn, thậm chí một cách thương mại, miễn là họ ghi công cho bạn về sự sáng tạo gốc ban đầu. Đây là giấy phép dễ dãi nhất được chào, với lưu ý về những gì những người khác có thể làm với các tác phẩm của bạn được cấp phép theo Ghi công – Attribution.

  1. Ghi công - Chia sẻ tương tự - Attribution Share Alike - CC BY-SA

Giấy phép này cho phép những người khác pha trộn, tùy biến, và xây dựng dựa vào tác phẩm của bạn thậm chí vì các lý do thương mại, miễn là họ ghi công cho bạn và cấp phép các sáng tạo mới của họ theo các điều khoản giống y hệt. Giấy phép này thường được so sánh với các giấy phép của phần mềm nguồn mở. Tất cả các tác phẩm mới dựa vào của bạn sẽ mang giấy phép y hệt, nên bất kỳ dẫn xuất nào cũng sẽ cho phép sử dụng thương mại.

  1. Ghi công - Không có phái sinh - Attribution No Derivative - CC BY-ND

Giấy phép này cho phép phân phối lại, thương mại hoặc phi thương mại, miễn là nó được truyền đi không có thay đổi và trong tổng thể, với sự ghi công cho bạn.

  1. Ghi công - Phi thương mại - Attribution Non-Commercial - CC BY-NC

Giấy phép này cho phép những người khác pha trộn, tùy biến, và xây dựng dựa trên tác phẩm của bạn phi thương mại, và dù các tác phẩm mới của họ cũng phải thừa nhận bạn và sẽ là phi thương mại, thì họ không phải cấp phép cho các tác phẩm phái sinh của họ theo các điều khoản y hệt.

  1. Ghi công - Phi thương mại - Chia sẻ tương tự - Attribution Non-Commercial Share Alike - CC BY-NC-SA

Giấy phép này cho phép những người khác pha trộn, tùy biến, và xây dựng dựa trên tác phẩm của bạn một cách phi thương mại, miễn là họ ghi công cho bạn và cấp phép cho các sáng tạo mới của bạn theo các điều khoản y hệt. Những người khác có thể tải về và phân phối lại tác phẩm của bạn giống hệt như giấy phép BY-NC-ND, nhưng họ cũng có thể dịch, tiến hành các pha trộn, và sản xuất các câu chuyện mới dựa vào tác phẩm của bạn. Tất cả tác phẩm mới dựa vào của bạn sẽ mang giấy phép y hệt, nên bất kỳ dẫn xuất nào cũng sẽ là phi thương mại một cách tự nhiên.

  1. Ghi công - Phi thương mại - Không có phái sinh - Attribution Non-Commercial No Derivative - CC BY-NC-ND

Giấy phép này là hạn chế nhất trong 6 giấy phép chính, cho phép bạn phân phối lại. Giấy phép này thường được gọi là giấy phép “quảng cáo tự do” vì nó cho phép những người khác tải về các tác phẩm của bạn và chia sẻ chúng với những người khác miễn là họ nhắc tới bạn và liên kết ngược về bạn, nhưng họ không thể thay đổi chúng theo bất kỳ cách gì hoặc sử dụng chúng cho các mục đích thương mại.

Việc có nhiều giấy phép CC khác nhau, đồng nghĩa với việc mức độ tự do của từng giấy phép là khác nhau, như Hình 3 bên dưới chỉ ra.

 

Hình 3. Mức độ tự do của các loại giấy phép khác nhau

 

  1. Miền công cộng (Public Domain): là nơi mà (các) tác giả không giữ lại quyền gì cho tác phẩm, thường xảy ra khi tác giả từ bỏ các quyền tác phẩm và hoặc khi tác phẩm hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo luật định.
  2. Giữ lại tất cả các quyền (All Rights Reserved): khi (các) tác giả giữ lại tất cả các quyền của tác phẩm. Bằng cách này, người sử dụng thường không có quyền như tùy biến thích nghi (để tạo ra các sản phẩm phái sinh), tái sử dụng, tái phân phối và/hoặc thương mại hóa tác phẩm, nếu không có sự cho phép trước bằng văn bản của tác giả. Thường thì sự cho phép này là phải trả tiền (bản quyền và/hoặc bằng sáng chế...).
  3. Giữ lại một số quyền (Some Rights Reserved): Giữ lại một số quyền của tác giả đối với tác phẩm, nghĩa là không phải dạng không giữ lại quyền gì như trong trường hợp của miền công cộng, cũng không phải dạng giữ lại tất cả các quyền. Đây chính là nơi mà cả 6 giấy phép CC được nêu ở trên hiện diện với các mức độ tự do của từng giấy phép khác nhau như trên Hình 3.

 

Một số lưu ý khi sử dụng các giấy phép CC cho các tác phẩm

  1. Khi làm việc với các quyền và nghĩa vụ của nguồn mở nói chung, OER nói riêng, chúng ta cần nói rất cụ thể để không bị nhầm lẫn các khái niệm cũng như các mức độ tự do của từng OER vì các OER khác nhau có thể mang các giấy phép CC khác nhau.
  2. Nên sử dụng công cụ chọn giấy phép CC cho tác phẩm sáng tạo của bạn, dù đó là tác phẩm hoàn toàn do bạn sáng tạo ra từ đầu, hay từ 2 hoặc nhiều hơn các tác phẩm được cấp phép mở do những người khác sáng tạo ra trước đó và được bạn kết hợp - tùy biến để tạo thành tác phẩm phái sinh theo các nhu cầu của bạnHình 4chỉ ra các công cụ trợ giúp cấp phép CC cho các tác phẩm như vậy.

 

Hình 4. Các công cụ trợ giúp cấp phép cho tác phẩm được cấp giấp phép CC

 

  1. Bộ giấy phép CC 4.0 là không tự khả chuyển.
  2. Tính tới hết tháng 08/2011, hệ thống Creative Commons đã có hơn 100 chi nhánh và hơn 70 quyền tài phán đã hỗ trợ thúc đẩy các hoạt động của nó, bao gồm cả Việt Nam. CC đã phát triển các giấy phép cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam, dù Chính phủ chưa sử dụng.

 

C. Khía cạnh công nghệ của OER

Với khía cạnh công nghệ, tất cả chúng ta đều muốn biết, làm thế nào để thiết lập một nền tảng công nghệ để triển khai việc sử dụng và sáng tạo OER, các công cụ nào giúp sáng tạo và sử dụng OER? OER liên quan tới các công việc gì mà công nghệ có thể trợ giúp được? Chúng ta cùng xem sơ đồ khái niệm OER như Hình 5 bên dưới.

Sơ đồ trong Hình 5 đưa ra 3 nội dung cần được tiến hành khi làm việc với OER gồm:

  1. Các công cụ: là các phần mềm nguồn mở để phát triển và phân phối các tài nguyên:
    1. Hệ thống quản trị nội dung - CMS, được tùy biến hoặc chuyên dụng cho OER
    2. Các công cụ phát triển - để sáng tạo và tái tạo ra OER
    3. Các phần mềm mạng xã hội - có khả năng đáp ứng được các tính năng của OER
    4. Các hệ thống quản lý học tập - quản lý các khóa học và các nội dung liên quan
  2. Nội dung: các tư liệu được xuất bản cho việc học tập và tham chiếu
    1. Các tài nguyên học tập, như các khóa học và các môn học...
    2. Các tham chiếu - như với các kho OER trên Internet
  3. Các tài nguyên triển khai
    1. Các công cụ cấp phép: các hệ thống giấy phép tự do - mở như CC và/hoặc GFDL
    2. Các tiêu chuẩn mở như IMS, SCORM hay OKI để đảm bảo tính tương hợp giữa các hệ thống OER khác nhau.

 

Hình 5. Sơ đồ khái niệm OER

 

Một số gợi ý khi xây dựng nền tảng công nghệ cho OER:

  1. Từ sơ đồ trên cho chúng ta thấy, để xây dựng được một nền tảng công nghệ đầy đủ cho OER là không dễ, vì chúng là sự kết hợp của nhiều hệ thống phần mềm khác nhau tạo nên.
  2. Có rất nhiều bộ các tiêu chí khác nhau khi lựa chọn các công cụ và các nền tảng công nghệ để sử dụng cho OER, tùy thuộc vào nhu cầu của từng cơ sở.
  3. Chỉ các định dạng và các chương trình mở mới có thể đảm bảo khả năng sử dụng và áp dụng OER không bị hạn chế và độc lập với các nền tảng ở mức kỹ thuật. Phần mềm có ý định là OER hoặc sẽ được phát triển và sử dụng để tạo ra và sử dụng OER phải được cấp phép thích đáng như là phần mềm tự do hoặc phần mềm nguồn mở.
  4. Trên thực tế, tồn tại hàng loạt các công cụ để sản xuất OER là có sẵn.
  5. Việt Nam nên học hỏi một số quốc gia để có tổ chức Creative Commons Vietnam.

 

Không giống như các tài nguyên giáo dục thông thường theo truyền thống, việc tạo ra được OER không phải là sự kết thúc mà chỉ là sự bắt đầu. Nói một cách khác, vòng đời của tài nguyên giáo dục theo truyền thống là khác so với vòng đời của OER như Hình 6 bên dưới.

Có thể nhận thấy sự khác biệt giữa 2 kịch bản trong hình trên, là sự tuần tự và hầu như có sự kết thúc khi tài nguyên giáo dục đã được tạo ra và đưa vào sử dụng, trong khi với OER thì còn có cả sự phát triển song song (giữa các bước kiểm tra - sửa đổi, và giữa các bước sử dụng - tái mục đích và/hoặc tích hợp).

Thực tế sử dụng và sáng tạo OER ở một vài nơi trên thế giới đã chỉ ra rằng, cần phải có các kỹ năng chuyên nghiệp để sử dụng và cải thiện tính hiệu quả của OER như mong muốn.

 

Hình 6.  Kịch bản  điển hình sử dụng tài nguyên giáo dục (hình trái) và OER (hình phải)

 

Lưu ý:

Đảm bảo chất lượng cho OER là sống còn, có nhiều công cụ chất lượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục được thực hiện theo từng bước trong kịch bản sử dụng OER như hình trên.

 

Bản địa hóa

Một trong những công việc quan trọng đối với các nước mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ là bản địa hóa. Bản địa hóa các OER chất lượng cao đã có sẵn rồi trên thế giới có thể là một cách thức tốt và nhanh chóng để có được các tư liệu học tập cho các quốc gia đang phát triển. Trong thực tế những năm qua, có một số chương trình bản địa hóa như vậy được tiến hành, như chương trình Giáo dục Giáo viên ở Hạ - Saharan Africa - TESSA (Teacher Education in Sub-Saharan Africa) và chương trình Giáo dục Giáo viên thông qua sự Hỗ trợ dựa vào Trường học ở Ấn Độ - TESS-India (Teacher Education through School-based Support in India). Tài liệu của các chương trình đó cũng đưa ra một bộ công cụ cũng như cách thức tiến hành bản địa hóa với 2 lớp và 3 mức thang cam kết OER cho những người phát triển OER nhằm chuyển các sáng kiến theo tính liên tục để đảm bảo cho sự phát triển và sử dụng OER công bằng và bền vững hơn. Các kinh nghiệm rút ra được từ 2 chương trình bản địa hóa ở trên có thể rất cần cho các cơ sở giáo dục của Việt Nam nếu một chương trình bản địa hóa OER tương tự được lựa chọn để triển khai.

Các dự án như TESS và TESS-India không phải là các dự án duy nhất có liên quan tới các ngôn ngữ không phải tiếng Anh. Tại châu Âu, nhiều dự án OER với các ngôn ngữ ít được sử dụng hơn - LUL (Less Used Languages) đã và đang được triển khai, như các dự án:Federica của Ý, Periodica của Latvi, NDLA của Nauy, Scholaris của Balan, RURA của Pháp và Wikiwijs của Hà Lan, trong đó nổi bật lên là dự án NDLA của Nauy (thành công về mặt xây dựng thị trường) và Scholaris của Balan (ví dụ nổi bật nhất về nền tảng OER do nhà nước cấp tiền).

Các dự án này có thể là những bài học quý cho các dự án OER ở Việt Nam trong tương lai.

D. Tìm kiếm và sử dụng OER

Phần này có khả năng là phần hấp dẫn nhất đối với những người muốn thử và/hoặc sử dụng ngay các OER có sẵn.

Một vài công cụ tìm kiếm OER và các tư liệu được cấp phép mở khác

  1. Tìm kiếm bằng trang tìm kiếm OER của Creative Commons:

 

Hình 7. Trang tìm kiếm OER của Creative Commons

Để tìm kiếm các tư liệu được cấp phép tự do - mở như các OER, có 4 bước sau:

  1. Tới địa chỉ trang tìm kiếm http://search.creativecommons.org/
  2. Gõ vào cụm từ cần tiềm kiếm, ví dụ cụm từ 'computer science' như trong Hình 7 rồi chọn giấy phép phù hợp bằng cách chọn hoặc bỏ chọn các ô vuông nhỏ bên dưới để chọn giấy phép như bạn mong muốn, nơi có các cụm từ như (1) sử dụng cho các mục đích thương mại (use for commercial purposes) và (2) sửa đổi, tùy biến hoặc xây dựng dựa vào nó (modify, adapt, or build upon).
  3. Chọn dạng tư liệu bằng cách xem trong số các ô chữ nhật lớn nằm giữa trang tìm kiếm, tư liệu nào bạn muốn tìm. Ví dụ, với Flickr là để tìm ảnh, YouTube là để tìm các video, hay Google là để tìm trên Web.
  4. Tiến hành tìm kiếm bằng cách nháy chuột vào ô nào bạn muốn tìm các tư liệu.

Danh sách kết quả sẽ hiện ra, và thường đó là các tư liệu được cấp phép mở, như các OER. Dù vậy, được khuyến cáo bạn nên kiểm tra lại các kết quả đó một lần nữa khi sử dụng để chắc chắn chúng có giấy phép Creative Commons.

  1. Cũng có các site tìm kiếm OER khác, ví dụ một số site như:
    1. http://www.jorum.ac.uk/
    2. http://xpert.nottingham.ac.uk/
    3. http://www.temoa.info/
    4. https://www.oercommons.org/
    5. http://www.jiscdigitalmedia.ac.uk/
    6. http://www.ocwfinder.org/
    7. http://edtechpost.wikispaces.com/OER+Dynamic+Search+Engine: hàng trăm liên kết ở site này dẫn tới các site khác có chứa các OER và các sách giáo khoa mở.
  2. Ví dụ về số lượng các tư liệu mở mà bạn có thể sử dụng tự do trên một số site:
    1. http://commons.wikimedia.org/wiki/Main_Page: có hơn 13 triệu tệp hình ảnh, âm thanh, đa phương tiện. Có các đường dẫn tới nhiều trang dạng wiki khác.
    2. http://www.oercommons.org/: Có khoảng 40.000 tài nguyên các khóa học từ phổ thông 12 lớp tới cao đẳng, có giấy phép mở, sử dụng tự do.
    3. http://openlibrary.org/: có hơn 1 triệu đầu sách các loại.
    4. http://www.opentextbook.org/: là nơi đăng ký và tập hợp các đường dẫn tới các dự án, các kho sách giáo khoa mở.
    5. http://www.oajse.com/: Cổng truy cập các tạp chí điện tử mở của Đại học Mở Krishna Kanta Handiqui. Là điểm khởi đầu để tìm kiếm vô số các tạp chí mở khác trên thế giới.
  3. Một số trang có các OER cho các đại học, được dịch sang nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Việt, như trang MERLOT II,https://www.merlot.org/merlot/index.htmRất có thể với thời gian, các site OER đa ngôn ngữ này sẽ gia tăng, có lợi cho những người học ở khắp nơi trên thế giới, và cũng vì thế có khả năng thách thức các trường học truyền thống trên khắp thế giới.
  4. Các tài liệu dịch sang tiếng Việt được sử dụng cho bài viết này (xem phần 'Tài liệu dịch sang tiếng Việt để tham khảo' ở cuối tài liệu này) đều là các OER, chúng đều có giấy phép tư liệu mở.

E. Ảnh hưởng của việc sử dụng OER

Trung tâm Nghiên cứu OER (OER Research Hub) của trường Đại học Mở của Vương quốc Anh đã xuất bản “Báo cáo bằng chứng OER 2013-2014 - Xây dựng sự hiểu biết về giáo dục mở”. Cuộc khảo sát đã đưa ra 11 giả thuyết, được thực hiện ở 180 nước, thu được 6.390 câu trả lời, trong số đó có 50,3% những người học phi chính quy, 24,7% những người học chính quy, 21,6% các nhà giáo dục và 3,4% các thủ thư, và đã có những phát hiện chính sau:

  • 37,6% các nhà giáo dục và 55,7% những người học chính quy nói rằng sử dụng OER cải thiện sự thỏa mãn của sinh viên
  • 27,5% các nhà giáo dục và 31,9% những người học chính quy đồng ý rằng sử dụng OER làm cho các điểm số các bài kiểm tra tốt hơn
  • 79,4% những người sử dụng OER tùy biến thích nghi các tài nguyên cho phù hợp với các nhu cầu của họ
  • 79,5% các nhà giáo dục sử dụng OER để có các ý tưởng và sự truyền cảm hứng mới
  • 88,4% những người học nói rằng cơ hội học tập nghiên cứu mà không có chi phí đã ảnh hưởng tới quyết định của họ để sử dụng OER
  • 74,9% người học không chính quy sử dụng OER để có được kinh nghiệm học tập
  • Việc biết ở đâu để tìm các tài nguyên là một trong những thách thức lớn nhất cho việc sử dụng OER
  • Tri thức chung về các kho OER được thiết lập tốt là thấp
  • Chỉ 5% các nhà giáo dục nói họ không chia sẻ thông tin về OER
  • Chỉ 12,4% các nhà giáo dục tạo ra các tài nguyên và xuất bản chúng với một giấy phép Creative Commons
  • Các video là dạng OER được sử dụng thường xuyên nhất.
  • Chi phí và sự truy cập tới các tư liệu có thể có ảnh hưởng tới sự giữ lại các sinh viên
  • 40,9% tất cả những người học chính quy trong mẫu khảo sát coi OER có ảnh hưởng tích cực trong việc giúp họ hoàn thành khóa học nghiên cứu của họ
  • 79,6% các sinh viên chính quy nghĩ họ tiết kiệm được tiền bằng việc sử dụng OER
  • 31,5% những người học không chính quy nói rằng sự quan tâm của họ trong việc sử dụng OER là cơ hội để thử nội dung mức đại học trước khi đăng ký vào khóa học phải trả tiền
  • 83,2% những người học phi chính quy nói họ có khả năng nhiều hơn chọn khóa học tự do khác hoặc học tập nghiên cứu một tài nguyên giáo dục tự do mở, và 24,2% nói rằng họ có thể tiếp tục chọn một khóa học phải trả tiền như là kết quả của việc sử dụng OER
  • Những người học chính quy chọn OER là thích hợp cho các nhu cầu đặc biệt của họ, có sự mô tả tốt các mục đích và các kết quả đầu ra của việc học tập, và dễ dàng tải về
  • Chỉ 15,5% những người học phi chính quy chọn OER với một giấy phép mở cho phép tùy biến thích nghi bất chấp thực tế là 84,7% nói họ tùy biến thích nghi các tài nguyên họ thấy phù hợp với các nhu cầu của họ

Còn đây là các kết luận chính của cuộc khảo sát, được xuất bản vào tháng 02/2015:

  • Triển khai OER có thể cải thiện hiệu năng của sinh viên, nhưng thường gián tiếp qua lòng tin, sự thỏa mãn và sự nhiệt tình được nâng cao đối với chủ đề đó
  • Sử dụng lại OER xảy ra ở phạm vi rộng, được sự cấp phép mở tạo thuận lợi
  • Sử dụng OER khuyến khích thực hành phản biện đối với các nhà giáo dục
  • Nhiều sinh viên đã sử dụng OER một cách phi chính quy trước khi đăng ký học tập nghiên cứu chính quy, và tiếp tục sử dụng OER để bổ sung cho công việc của họ
  • Nhận thức về OER và Creative Commons đang gia tăng, nhưng các kho OER vẫn khá ít được sử dụng và ít được biết tới khi so sánh với các nguồn OER khác như YouTube, Viện Khan (Khan Academy) hoặc các bài giảng của TED

Trong ví dụ cụ thể một OER về toán học, David Wiley, một giáo sư đại học và là người lãnh đạo Nhóm Giáo dục Mở (Open Education Group) đã nêu: 'Sử dụng OER đã dẫn tới một sự gia tăng 50 lần (nghĩa là, sự cải thiện 5.000%) trong tỷ lệ phần trăm [sinh viên] đỗ theo từng USD. Bất kể bạn nhìn nó theo cách nào, thì đó là một sự cải thiện tận gốc rễ'.

F. Khía cạnh tài chính của OER

Một số tài liệu có đề cập tới khía cạnh tài chính của OER, cụ thể hơn là với các sách giáo khoa mở, như trong tài liệu “Hứa hẹn năm 2012 về sách giáo khoa truy cập mở: Mô hình để thành công”. Tài liệu này đề cập tới 2 việc sau:

  1. Các nguồn vốn tiềm năng cung cấp cho sản xuất và tiêu thụ sách giáo khoa mở và các dịch vụ xung quanh nó. Có vài dạng cấp vốn như:
    1. Bán sách kèm tài liệu in phụ trợ được in theo yêu cầu, phiên bản tiếng nói...
    2. Bán sách, phiên bản có và không có quảng cáo với giá thành khác nhau
    3. Cấp tiền một lần từ liên bang
    4. Cấp tiền từ các quỹ từ thiện
    5. Sinh viên trả phí theo khóa học khi sách giáo khoa mở được sử dụng, thường từ 5-10 USD để lưu hành và phát triển sách mới.
    6. Quyên góp tiền qua website
    7. Các tổ chức sinh viên gây quỹ làm sách giáo khoa mở
  2. Kinh tế của các nhà in đại học
    1. Các nhà in đại học thường gặp khó khăn về kinh doanh, gợi ý nên được bao cấp một phần vì họ không chỉ có nhiệm vụ kinh doanh như các nhà xuất bản khác, mà còn có trách nhiệm truyền đạt tri thức.
    2. Các nhà in đại học ở Mỹ còn chưa được bao cấp một phần như ở châu Âu và vài nước khác như Canada.
    3. Các mô hình kinh doanh ở các nơi khác nhau là khác nhau và vẫn còn tồn tại khiếm khuyết không công bằng và không bền vững. Để khắc phục điểm yếu đó, mỗi nơi có một cách giải quyết riêng, ví dụ, như nhà in đại học Florida, người mua bản in theo yêu cầu vừa trả tiền chi phí in ấn, vừa bao cấp cho việc biên soạn phát triển, biên soạn các bản sao, và các chi phí liên quan tới các bản tải về tự do. Các nơi khác có thể có các cách thức giải quyết khác, và chúng còn đang tiến hóa.

G. Chiến lược OER

Một số tài liệu đưa ra đường lối chiến lược chung và/hoặc cụ thể cho từng đối tượng, từng cơ sở giáo dục để sử dụng và sáng tạo OER.

Tổ chức của Liên hiệp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa - UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) đã đưa ra tuyên bố Paris nhân dịp Hội nghị OER thế giới diễn ra tại Paris, Pháp trong các ngày 20-22/06/2012 gồm 10 điểm sau:

  1. Khuyến khích nâng cao nhận thức và sử dụng OER.
  2. Tạo thuận lợi cho các môi trường sử dụng CNTT-TT.
  3. Tăng cường phát triển các chiến lược và chính sách OER.
  4. Thúc đẩy hiểu biết và sử dụng các khung cấp phép mở.
  5. Hỗ trợ xây dựng năng lực vì sự phát triển bền vững các tư liệu học tập có chất lượng.
  6. Khuyến khích các liên minh chiến lược về OER.
  7. Thúc đẩy phát triển và áp dụng OER trong các ngôn ngữ và ngữ cảnh văn hóa khác nhau.
  8. Thúc đẩy nghiên cứu về OER
  9. Tạo thuận lợi phát hiện, tìm kiếm, sử dụng và chia sẻ OER.
  10. Thúc đẩy việc cấp phép mở cho các tư liệu giáo dục được tạo ra từ ngân sách nhà nước.

Cũng UNESCO, trong tài liệu của mình với đầu đề: “Các chỉ dẫn về tài nguyên giáo dục mở (OER) trong giáo dục đại học”, xuất bản năm 2015, đã đưa ra các chỉ dẫn chiến lược cho 5 đối tượng sau:

  1. Chính phủ
  2. Cơ sở giáo dục đại học
  3. Các giáo viên - đội ngũ nghiên cứu hàn lâm
  4. Các sinh viên tổ chức, cơ sở của sinh viên
  5. Các cơ sở đảm bảo, công nhận chất lượng và các cơ sở thừa nhận hàn lâm

Có khuyến cáo cho chính phủ xây dựng chính sách OER, đặc biệt với các ngôn ngữ ít được sử dụng hơn - LUL (Less Used Languages), có thể là rất phù hợp với điều kiện của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các điểm như:

  1. Các chính phủ nên áp dụng các chính sách quốc gia để hỗ trợ OER trong các Ngôn ngữ ít được sử dụng hơn (LUL).
  2. Các chính phủ nên tạo thuận lợi trong quan hệ đối tác với khu vực tư nhân, nhà nước và giáo dục, các thị trường và khu vực cộng tác vì OER có chất lượng.
  3. Các chính phủ nên nắm lấy sự lãnh đạo trong việc tạo thuận lợi cho sự phát triển các khuôn khổ và các tiêu chuẩn mở để làm cho dễ dàng khả năng của các kho và các hệ thống OER làm việc được với nhau (cung cấp và chấp nhận nội dung giáo dục, các ứng dụng tương thích và các dịch vụ được ngữ cảnh hóa).

Đối với chiến lược OER của một trường đại học cụ thể, có thể tham khảo cuốn sách với đầu đề: “Chiến lược tài nguyên giáo dục mở (OER) 2014-2016” của trường đại học Nam Phi. Trường đại học này đưa ra chiến lược xây dựng OER gồm các điểm sau:

  1. Phát triển hệ thống quản lý có hiệu quả về sở hữu trí tuệ.
  2. Thiết lập một khung cấp phép mở.
  3. Tích hợp có hệ thống OER có sẵn, chất lượng cao một cách thích hợp vào các khóa học và phát hành chúng để những người khác sử dụng.
  4. Đóng góp cho kho tài nguyên OER toàn cầu.
  5. Đánh giá và rà soát lại các chính sách của tổ chức để kết hợp các giá trị và quy trình OER.

Hàng loạt các chỉ dẫn chiến lược về OER được UNESCO đưa ra trong tài liệu có tên: “Chỉ dẫn cơ bản về tài nguyên giáo dục mở (OER)”, được xuất bản trong năm 2015.

Gần đây nhất, Bộ Giáo dục Mỹ phát động chiến dịch khuyến khích các trường học Đi với Mở (#GoOpen) bằng các tài nguyên giáo dục, theo đó, Bộ đề xuất quy định yêu cầu các tư liệu giáo dục được tạo ra bằng tiền trợ cấp của liên bang sẽ phải được cấp phép mở sao cho bất kỳ trường nào cũng truy cập được.

H. Xây dựng thí điểm nền tảng OER

Có lẽ, ngoài 2 dự án bản địa hóa OER là TESSA và TESS-India được nêu ở trên ra, còn một ví dụ nữa về xây dựng hệ thống CNTT để sáng tạo, phân phối và truy cập OER ở trường đại học KNUST, Ghana để các cơ sở có quan tâm có thể tham khảo học tập. Dự án của trường đại học này có sự trợ giúp của trường đại học Michigan cũng như sự hỗ trợ tài chính từ các quỹ Hewlett và Gates để hỗ trợ với sự phát triển học tập điện tử (e-learning) và OER tại KNUST và Đại học Ghana.

I. Tóm lược

OER có khả năng mang lại nhiều lợi ích cho giáo dục, đặc biệt trong việc giảm chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng giáo dục, có khả năng huy động được cả các giáo viên và sinh viên vào việc sáng tạo và sử dụng OER, chứ không chỉ đơn thuần là những người sử dụng thụ động các tư liệu giáo dục.

Để có thể thành công trong việc sử dụng, sáng tạo, kết hợp và tái mục đích OER, đòi hỏi các bên tham gia đóng góp phải có các kỹ năng mới nhất định, nhất là lĩnh hội được các khía cạnh triết lý - các nguyên tắc, pháp lý - hệ thống giấy phép - sở hữu trí tuệ, cũng như việc xây dựng các cộng đồng và hệ sinh thái OER, điều có xuất xứ từ phong trào phần mềm tự do nguồn mở, để có khả năng giải quyết tốt được tất cả các khía cạnh mà OER đặt ra.

Bài viết này không đi sâu vào chi tiết bất kỳ khía cạnh nào của OER, mà cố gắng đưa ra tổng quan với một vài gợi ý và liệt kê ra các khía cạnh đó một cách cơ bản nhất và chỉ ra các tham chiếu tối thiểu tới các tài liệu để những ai trong số những người đọc có quan tâm có khả năng nghiên cứu tiếp các khía cạnh đó một cách chi tiết hơn.

J. Một vài đề xuất

Để có thể nhanh chóng và hiệu quả đưa việc sử dụng và sáng tạo OER vào trong thực tế ở Việt Nam, một số đề xuất như sau:

  1. Xây dựng một đề tài - dự án thí điểm về OER trong một vài trường đại học, cả công lập và dân lập ở Việt Nam; và/hoặc
  2. Xây dựng một đề tài - dự án chuyển giao công nghệ từ bên ngoài vào Việt Nam dạng như các chương trình TESSA hoặc TESS-India với sự tham gia của một vài trường đại học, cả công lập và dân lập, cũng như một số trường phổ thông hệ 12 lớp
  3. Một đề tài - dự án kết hợp được cả 2 cách ở trên để có khả năng triển khai có hiệu quả nhất về chi phí.
  4. Cân nhắc khả năng thành lập đơn vị - tổ chức Creative Commons Việt Nam.

K. Kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam

Có nhiều định nghĩa khác nhau về OER. Bộ Giáo dục Mỹ đã đưa ra định nghĩa OER trên website của mình là: “Các tài nguyên giáo dục được cấp phép mở là các tư liệu học tập có thể được sử dụng cho việc dạy, học và đánh giá mà không có chi phí. Chúng có thể được sửa đổi và được phân phối lại mà không vi phạm các luật bản quyền”.

Đây là một vấn đề mới, trên thế giới cũng chỉ mới bắt đầu có tại Mỹ (MIT) từ năm 2002. Tuy nhiên, số lượng các tài nguyên giáo dục được cấp phép mở, nhất là các giấy phép trong hệ thống các giấy phép tư liệu mở Creative Commons kể từ khi hệ thống này ra đời vào năm 2002 cho tới nay đã ra tăng nhanh chóng. Theo các số liệu thống kê trên wikipedia, tới tháng 11/2014 đã có khoảng 880 triệu, thậm chí hơn 1 tỷ tư liệu được cấp phép Creative Commons trong những ngày này, còn trên trang chuyên để lưu trữ ảnh tự do Flickr, cho tới tháng 3/2015 đã có 306 triệu ảnh chụp mang giấy phép Creative Commons, và chúng vẫn đang gia tăng nhanh chóng từng ngày.

Thông tin mới gần đây từ Bộ Giáo dục Mỹ

  1. Ngày 29/10/2015 vừa rồi, Bộ Giáo dục Mỹ đã phát động chiến dịch #GoOpen khuyến khích các trường phổ thông hệ 12 lớp đi theo chiến dịch đó bằng các tài nguyên giáo dục. Với chiến dịch này, Bộ Giáo dục Mỹ đã đưa ra thông cáo báo chí, theo đó đề xuất quy định yêu cầu các tư liệu giáo dục được tạo ra bằng tiền trợ cấp của liên bang sẽ phải được cấp phép mở sao cho bất kỳ trường nào cũng truy cập được.
  2. Cũng trong tài liệu đó, Bộ Giáo dục Mỹ đã đưa ra đề xuất là vào mùa thu 2016, mỗi trường phổ thông trong số 15.000 trường ở Mỹ sẽ có 1 cuốn sách giáo khoa mở. Bằng cách này được kỳ vọng mỗi trường có thể tiết kiệm được vài chục ngàn USD.

Điều này cho thấy, có thể trong vòng 5 năm tới, tất cả các sách giáo khoa trong các trường phổ thông ở nước Mỹ sẽ là các sách giáo khoa mở mà bất kỳ ai trên thế giới này cũng có thể tải về để sử dụng, kể cả các học sinh Việt Nam.

Nhiều khả năng các cuốn sách giáo khoa mở đó sau đó sẽ được dịch sang các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, trong đó có tiếng Việt, giống như những gì được làm trên website MERLOT được nêu ngay bên dưới đây.

  1. Trong vô số các website chuyên dành cho các OER trong giáo dục đại học, mà những người học trên toàn thế giới có thể tham gia học tập một cách tự do, có những site mà các thông tin không chỉ bằng tiếng Anh, mà được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. Việc bản địa hóa sang ngôn ngữ tiếng Việt này có khả năng được dịch tự động bằng máy và/hoặc với sự tham gia của những người tình nguyện, đăng ký với website để tham gia vào cộng đồng giúp cho việc dịch, bản địa hóa sang tiếng Việt đối với các thông tin và tài nguyên giáo dục có trên website. Ví dụ về một website như vậy là:https://www.merlot.org/merlot/index.htm

Với sự tham gia dịch và bản địa hóa sang các ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Việt, của các cộng đồng những người dịch - bản địa hóa, được kỳ vọng là số lượng các OER và các thông tin liên quan sẽ ngày càng gia tăng, cả về số lượng và chất lượng.

  1. Kết hợp 2 điều ở trên lại cho chúng ta thấy, rất có thể có khả năng trong vòng 10 năm tới tất cả các học sinh, sinh viên Việt Nam, ngồi ở Việt Nam hoặc bất kỳ nơi nào trên thế giới, chỉ với một kết nối Internet băng thông đủ rộng, là hoàn toàn có khả năng lên Internet để tải về và/hoặc tham gia vào các khóa học với các nội dung từ các cuốn sách giáo khoa mở được chuẩn hóa và cập nhật liên tục của nước Mỹ bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Điều này sẽ dễ dàng với các môn khoa học tự nhiên, dù với các môn khoa học xã hội nhân văn thì khó hơn, vì, ví dụ, các trẻ em Việt Nam trong các trường phổ thông không thể học môn lịch sử nước Mỹ hay nước nào khác mà không học lịch sử Việt Nam được.

Kể cả là như vậy, thì sẽ có 1 câu hỏi đặt ra khi đó:

Các giáo viên và các trường phổ thông ở Việt Nam sẽ ra sao nếu điều này xảy ra? Liệu có bao nhiêu học sinh Việt Nam sẽ tham gia vào các khóa học như vậy?

  1. Được biết, có 22 triệu người Việt Nam hàng ngày đang sống và làm việc trong khu vực giáo dục.
  2. Một trong nhiều lựa chọn chiến lược của Việt Nam trong tương lai cũng có thể là đi với phong trào OER cùng thế giới. Trong trường hợp này, giáo dục Việt Nam có thể:
    1. Phát triển cùng và không tách rời khỏi các cộng đồng phát triển OER của thế giới, có được các phiên bản cập nhật nhất các OER của thế giới, cả với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học.
    2. Giảm được chi phí của học sinh, sinh viên và những người học tập suốt đời về sách giáo khoa và các tài nguyên giáo dục mà lại giữ được và/hoặc làm gia tăng được chất lượng giáo dục ở tất cả các mức học bằng việc sử dụng và sáng tạo các OER chất lượng cao, kể cả ở mức thế giới.
    3. Kỳ vọng có thể biến đổi ít nhất từ 5-10% số lượng những người sống và làm việc hàng ngày trong khu vực giáo dục, tương đương với khoảng 1,1-2,2 triệu người, từ những người thụ động sử dụng các tài nguyên giáo dục nhập khẩu của nước ngoài, hiện đang rất phổ biến trong các trường đại học, thành những người cộng tác sáng tạo ra và sử dụng các OER tiếng Việt cho các nhu cầu của người Việt Nam, kể cả cho các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số của Việt Nam trong tương lai, giống như những gì đã được làm với các dự án OER và/hoặc bản địa hóa OER trên thế giới như TESS-IndiaTESSA, và một số dự án OER với các ngôn ngữ ít được sử dụng - LUL (Less Used Languages) tại một số quốc gia châu Âu như Federica của Ý, Periodica của Latvi, NDLA của Nauy, Scholaris của Balan, RURA của Pháp và Wikiwijs của Hà Lan...

Công việc này là khó khăn, dài hạn và chỉ có khả năng trở thành hiện thực khi giáo dục của Việt Nam có được đường lối rõ ràng về OER từ bây giờ.

L. Tài liệu tham khảo

1. Tài liệu dịch sang tiếng Việt để tham khảo, có sử dụng trong bài

  1. 'Dạy học trong kỷ nguyên số', tác giả: Anthony Williams (Tony) Bates, xuất bản lần đầu ngày 15/04/2015
  2. 'Tài nguyên Giáo dục Mở và các thực tiễn sư phạm trong giáo dục đại học của châu Phi. Triển vọng từ dự án ROER4D'. Cheryl Hodgkinson-Williams, Transform 2015 xuất bản ngày 07/04/2015
  3. 'Làm thế nào để tăng cường tài nguyên giáo dục mở', Liên minh Giáo dục Tự do - Tài liệu quan điểm, xuất bản tháng 02/2015
  4. 'Các chỉ dẫn về tài nguyên giáo dục mở (OER) trong giáo dục đại học', của UNESCO và Khối thịnh vượng chung về học tập (COL) xuất bản năm 2015
  5. 'Chỉ dẫn cơ bản về tài nguyên giáo dục mở (OER)', của Neil Butcher, UNESCO và Khối thịnh vượng chung về học tập (COL) xuất bản năm 2015
  6. 'Chiến lược Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) 2014-2016' của Đại học Nam Phi (UNISA), Đại học Nam Phi xuất bản, 26/03/2014
  7. 'Rà soát lại mới nhất các vấn đề chất lượng có liên quan tới tài nguyên giáo dục mở (OER)', các tác giả: Anthony F. Camilleri, Ulf Daniel Ehlers, Jan Pawlowski, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chung, Ủy ban châu Âu, xuất bản năm 2014
  8. 'Triển vọng về chính sách và các thực tiễn của châu Á', Tài nguyên Giáo dục Mở châu Á xuất bản, tháng 09/2012
  9. 'Tài liệu sổ tay dữ liệu mở v1.1.0', Quỹ Tri thức Mở xuất bản, 2012
  10. 'Các chỉ dẫn về tài nguyên giáo dục mở (OER) trong giáo dục đại học', của UNESCO và Khối thịnh vượng chung về học tập (COL) xuất bản năm 2011
  11. 'Chỉ dẫn cơ bản về tài nguyên giáo dục mở (OER)', của Neil Butcher, UNESCO và Khối thịnh vượng chung về học tập (COL) xuất bản năm 2011
  12. 'Chính sách phát triển và sử dụng các tài nguyên giáo dục mở - đại học Khoa học và Công nghệ KWAME NKRUMAH (KNUST)', Kumasi, Ghana, tháng 8/2010
  13. 'Ảnh hưởng của sử dụng OER lên việc dạy và học: dữ liệu từ trung tâm nghiên cứu OER (2013-2014)', Hiệp hội Nghiên cứu Giáo dục Anh, 2014
  14. 'Báo cáo bằng chứng OER 2013-2014 - Xây dựng sự hiểu biết về giáo dục mở', Trung tâm Nghiên cứu OER, 2014
  15. 'Học từ tiếp cận của TESS-India về bản địa hóa OER xuyên khắp các bang của Ấn Độ', Hiệp hội Nghiên cứu Giáo dục Anh, 2014
  16. 'Vai trò của bản địa hóa OER trong việc xây dựng mối quan hệ đối tác tri thức vì sự phát triển: So sánh các dự án cho các giáo viên TESSA và TESS-India', các tác giả: Alison Buckler, Leigh-Anne Perryman, Shankar Musafir và Tim Seal, 2014
  17. 'Bộ Giáo dục Mỹ phát động chiến dịch khuyến khích các trường học Đi với Mở (#GoOpen) bằng các tài nguyên giáo dục', Bộ Giáo dục Mỹ xuất bản, 29/10/2015
  18. 'Hứa hẹn năm 2012 về sách giáo khoa truy cập mở: Mô hình để thành công', Robin Donaldson & David Nelson, 2012
  19. 'Tóm tắt chính sách - Tài nguyên Giáo dục Mở trong ngôn ngữ của riêng bạn, theo cách của bạn' của các tác giả Udnaes, M., Titlestad, G., Johannessen, Ø, Nhóm LangOER (http://langoer.eun.org/) xuất bản ngày 07/01/2015.
  20. 'Tóm tắt chính sách - Tính mở ảnh hưởng tới giáo dục đại học như thế nào' của các tác giả Neil Butcher và Sarah Hoosen thuộc Viện UNESCO về Công nghệ Thông tin trong Giáo dục (UNESCO IITE) xuất bản năm 2014.
Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự