Tài liệu

Khái niệm và đặc điểm của hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ

Social Sciences

Thiết bị toàn bộ là gì?

Công trình thiết bị toàn bộ-với tư cách là đối tượng của hợp đồng thương mại-đã tồn tại từ nhiều năm nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ và ngắn gọn nào được tất cả các quốc gia và các tổ chức quốc tế chấp nhận đối với loại hàng hoá đặc thù này.

Ở Liên xô trước đây và Nga hiện nay, người ta coi công trình thiết bị toàn bộ là tập hợp thiết bị máy móc, vật tư xây lắp dùng để xây dựng toàn bộ một công trình theo thiết kế, được vận hành theo một qui trình công nghệ cụ thể và đạt được những thông số sản xuất đề ra. Theo định nghĩa này, công trình thiết bị toàn bộ bao gồm các thành phần như:

  • Khảo sát kỹ thuật và nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
  • Lập luận chứng kinh tế kỹ thuật.
  • Lập thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công.
  • Giao thiết bị toàn bộ và vật liệu.
  • Xây dựng, lắp ráp và hiệu chỉnh vận hành.
  • Thực hiện các dịch vụ có liên quan.

Uỷ ban kinh tế của Liên Hợp Quốc trên cơ sở tổng kết các hoạt động thương mại thực tiễn trong lĩnh vực buôn bán và lắp ráp thiết bị, máy móc đã soạn thảo ra “Điều kiện chung giao hàng và lắp ráp nhà máy và máy móc xuất nhập khẩu” số 188A. Điều kiện chung này được đa số các quốc gia và các tổ chức thương mại quốc tế chấp nhận và áp dụng với các sửa đổi tuỳ theo từng hoàn cảnh, từng trường hợp cụ thể. Trong bản" Điều kiện chung” này đã đưa ra một định nghĩa gần với khái niệm công trình thiết bị toàn bộ mà chúng ta vẫn thường hiểu nhưng khái quát hơn đó là:

“Công trình” có nghĩa là toàn bộ Nhà máy do Người bán (Contractor) giao và các công việc được người bán tiến hành theo hợp đồng. “Nhà máy” có nghĩa là toàn bộ máy móc thiết bị, dụng cụ đo đạc, điều khiển, vật liệu và các danh mục được giao theo hợp đồng.

Đối với Việt Nam, khái niệm"thiết bị toàn bộ” lần đầu tiên được đưa ra trong Điều 2 “Bản thể lệ tạm thời về việc đặt hàng giữa Bộ ngoại thương và các Bộ trong cả nước” ban hành kèm thông tư 07/TTg ngày 7/1/1961 của Thủ tướng Chính phủ:

"Thiết bị toàn bộ là nhà máy, cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cơ sở khoa học hay thí nghiệm, bệnh viên, trường học, công trình kiến trúc, công trình thuỷ lợi, giao thông, bưu điện,...nhờ nước ngoài thiết kế hoặc giúp thiết kế, do nước ngoài cung cấp thiết bị, nguyên liệu sản xuất thử, hướng dẫn xây lắp máy và sản xuất thử. Ngoài ra căn cứ vào tình hình đặc biệt, có thể có một số thiết bị tuy không đủ các điều kiện trên nhưng được Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước duyệt là thiết bị toàn bộ thì cũng được quy định là thiết bị toàn bộ."

Như vậy, trừ trường hợp đặc biệt, theo định nghĩa này, một hệ thống thiết bị được coi là thiết bị toàn bộ phải có 3 điều kiện cơ bản:

  • Đó là các công trình do nước ngoài thiết kế hoặc giúp ta thiết kế.
  • Do nước ngoài cung cấp thiết bị, nguyên liệu sản xuất thử.
  • Do nước ngoài hướng dẫn xây lắp và sản xuất thử.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và thay đổi cơ cấu của nền kinh tế Việt nam, các khái niệm và định nghĩa này cũng được bổ sung và phát triển. Ngày 13/11/1992 Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 91/TTg ban hành” Quy định về quản lý nhập khẩu máy móc, thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước”, trong đó đưa ra định nghĩa Thiết bị toàn bộ như sau:

Thiết bị toàn bộ là tập hợp máy móc thiết bị, vật tư dùng riêng cho một dự án có trang bị công nghệ cụ thể có các thông số kinh tế-kỹ thuật được mô tả và qui định trong thiết kế của dự án.

Như vậy, nội dung của hàng hoá thiết bị toàn bộ bao gồm:

  • Khảo sát kỹ thuật.
  • Luận chứng kinh tế- kỹ thuật hoặc nghiên cứu khả thi công việc thiết kế.
  • Thiết bị , máy móc, vật tư... cho xây dựng dự án.
  • Các công tác xây dựng, lắp ráp, hiệu chỉnh, hướng dẫn vận hành.
  • Các dịch vụ khác có liên quan đến dự án như chuyển giao công nghệ, đào tạo...

Việc nhập khẩu được tiến hành thông qua một hợp đồng(theo hình thức trọn gói) với toàn bộ nội dung hàng hoá nêu trên, hoặc thực hiện từng phần tuỳ theo yêu cầu.

Điều đó có nghĩa là khi nhập khẩu một công trình thiết bị toàn bộ như một nhà máy sản xuất xi măng, thì ngoài các thiết bị lẻ cũng như phạm vi nhập khẩu của các loại hình này bao gồm hình thức nhập khẩu hàng hoá vật chất và hàng hoá phi vật chất. Tuy rằng ra đời hơi chậm và còn có những khiếm khuyết nhất định nhưng có thể nói Quyết định 91/TTg của Thủ tướng Chính Phủ đã đưa ra định nghĩa rõ ràng và chính xác về thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ cũng như phạm vi của chúng, góp phần rõ rệt vào việc nâng cao hiệu quả của việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, xác định chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như phương thức và trình tự để tiến hành việc nhập khẩu thiết bị, máy móc trong nền kinh tế thị trường phù hợp với xu hướng mở cửa, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới cũng như chủ trương đơn giản hoá các thủ tục hành chính của Nhà nước.

Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng được phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ.

Kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình giao dịch, ký kết thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị(bao gồm thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ) và dịch vụ có liên quan đến thiết bị trong quan hệ với bạn hàng nước ngoài.

Công trình thiết bị toàn bộ thông thường có tổng vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn sử dụng để nhập khẩu thiết bị toàn bộ thường là vốn ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn tài trợ của nước ngoài thông qua Chính Phủ hay các nguồn vay nước ngoài có sự bảo lãnh của Nhà nước, các Ngân hàng thương mại Việt Nam, v.v., vì vậy một doanh nghiệp chỉ có thể được phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ sau khi đã thực hiện đầy đủ các thủ tục có liên quan theo qui định cụ thể của pháp luật.

Trước kia, theo qui định của thông tư 04/TM- ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ thương mại, muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp phải được Bộ thương mại cấp giấy phép kinh doanh phù hợp với Điều 5 Nghị định số 144/HĐBT ngày 7/7/1992 trong đó ở phần nhập khẩu có ghi ngành hàng thiết bị, máy móc. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải đáp ứng các yêu cầu như:

  • Doanh nghiệp có bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ có đủ năng lực chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ ngoại thương, giá cả, pháp lý quốc tế trong kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
  • Doanh nghiệp đã kinh doanh nhập khẩu ngành hàng máy móc thiết bị lẻ tối thiểu 5 năm và có mức doanh số nhập khẩu máy móc thiết bị trong năm không dưới 5 triệu USD.
  • Doanh nghiệp có vốn lưu động do nhà nước giao tự bổ sung bằng tiền Việt nam và tiền nước ngoài tối thiểu tương đương với 500.000USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị.

Do đó, doanh nghiệp cần phải xin đăng ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ với Bộ thương mại bằng cách gửi bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh, bao gồm:

  • Đơn xin kinh doanh nhập khẩu thiết bị .
  • Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
  • Hồ sơ hợp lệ xác nhận vốn lưu động(bao gồm vốn Nhà nước giao và vốn tự bổ sung).
  • Bảng tổng kết tài sản 5 năm cuối cùng(Biểu tổng hợp).
  • Sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh và cán bộ cần thiết để đảm bảo đủ năng lực kinh doanh thiết bị.

Tuy nhiên, sau này theo nội dung của nghị định 33/CP ngày19/4/1994 về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu và tiếp đó là Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 qui định chi tiết thi hành luật Thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công, đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài; để được phép kinh doanh xuất nhập khẩu(kể cả hàng hoá thiết bị toàn bộ), doanh nghiệp phải được thành lập theo qui định pháp luật, được phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký kinh doanh, đã đăng ký mã số kinh doanh với Cục Hải Quan tỉnh, thành và hàng hoá đó không thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất nhập khẩu. Với cơ chế mới, để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp có thể trực tiếp nhập khẩu thiết bị toàn bộ thông qua đấu thầu; hoặc doanh nghiệp có thể uỷ thác cho doanh nghiệp khác được phép kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý ở đây là đối với một doanh nghiệp muốn được phép kinh doanh xuất nhập khẩu mặt hàng này thì trong những văn bản ban hành sau thông tư 04/TM-ĐT như đã kể trên lại chưa được qui định cụ thể, trong các danh mục ngành hàng mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu lại không có tên của ngành hàng" thiết bị toàn bộ”. Do vậy, trong thực tế, hiện nay các doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ vẫn áp dụng các qui định của thông tư 04/TM-ĐT. Bản thân giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật cũng được cấp dựa theo giấy phép cũ mà Bộ thương mại đã cấp cho tiền thân là Tổng công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật trước đó, chứ còn nếu áp dụng theo các qui định của Nghị định 33-CP hay Nghị định 57/1998/NĐ-CP thì khó có thể cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đối với ngành hàng thiết bị toàn bộ cho công ty.

Các phương thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ.

Nếu như thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị lẻ không gặp nhiều vướng mắc và chỉ mất một khoảng thời gian tương đối ngắn thì việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ thường kéo dài hơn nhiều với một khối lượng công việc đồ sộ và phức tạp liên quan tới các công đoạn xây xựng nhà xưởng, nhập khẩu hàng hoá, lắp đặt, vận hành, đào tạo vận hành... Chính vì vậy mà vấn đề đặt ra là nên tiến hành nhập khẩu theo phương thức nào là tối ưu nhất đảm bảo an toàn cho đầu tư trong khi chúng ta chưa đủ khả năng và trình độ để có thể hoàn toàn an tâm về quyết định nhập khẩu thiết bị toàn bộ và công nghệ của mình.

Hiện nay, có nhiều cách phân loại các phương thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ, nếu theo cách phân loại của FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn), trên thế giới có bốn phương thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ chủ yếu(ở Việt nam các phương thức này không được gọi là các phương thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ mà được gọi là các hình thức tổ chức quản lý thực hiện công trình thiết bị toàn bộ-được định nghĩa trong Quy Chế Quản lý đầu tư và xây dựng ra ngày (8/7/1999 ) bao gồm:

Phương thức qui ước(Conventional method):

Đây là phương thức được sử dụng rất phổ biến, trong đó đầu tư hay chủ công trình thông qua một đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm lập dự án, thiết kế và soạn hồ sơ đấu thầu, giúp chủ đầu tư tổ chức việc đấu thầu và giám sát được gọi là phương thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án.

Phương thức tự quản( In-house method):

Trong phương thức tự quản, chủ đầu tư không sử dụng đơn vị tư vấn bên ngoài mà sử dụng lực lượng nội bộ thuộc đơn vị mình để tiến hành mọi việc liên quan đến việc xây lắp công trình từ khâu lập dự án, thiết kế, thi công đến vận hành thử và bảo hành...Trên thế giới, người ta áp dụng phương thức này chủ yếu đối với các công trình chuyên dụng đặc biệt như các công trình thuộc lĩnh vực dầu khí, năng lượng nguyên tử...

Còn đối với Việt nam, đây chỉ là phương thức tự làm và chỉ áp dụng đối với các công trình sửa chữa, cải tạo quy mô nhỏ, các công trình chuyên ngành không đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao như xây dựng nông, lâm nghiệp và các công trình tự đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng...

Phương thức quản lý dự án(Management method):

Trong phương thức này, chủ đầu tư sẽ thuê một công ty tư vấn đứng ra chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với việc giao dịch với các đơn vị thiết kế, cung ứng vật tư và đơn vị nhận thầu thi công. Công ty tư vấn chịu trách nhiệm giám sát mọi mặt nhưng không đồng nhất với vai trò tổng thầu xây dựng theo kiểu chìa khoá trao tay.

Ở Việt nam, phương thức này được gọi là Phương thức chủ nhiệm điều hành dự án. Đối với phương thức này, sau khi tổ chức tuyển chọn, chủ đầu tư sẽ trình lên cấp có thẩm quyền để quyết định tổ chức tư vấn đứng ra thay mặt ký kết các hợp đồng nói trên và chịu trách nhiệm giám sát quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án. Theo đó thì phương thức này chỉ áp dụng đối với các dự án có qui mô lớn, có kỹ thuật phức tạp và thời gian xây dựng dài.

Phương thức chìa khoá trao tay(turn -key method):

Một cách đơn giản, người ta thường quan niệm nhập khẩu máy móc thiết bị là nhập khẩu công nghệ và kỹ thuật. Nhập khẩu thiết bị toàn bộ hoặc nhà máy theo hình thức" chìa khoá trao tay” được coi là những hình thức phù hợp để tranh thủ được công nghệ và kỹ thuật của nước ngoài.

Nếu tiến hành nhập khẩu theo phương thức này, chủ đầu tư chỉ quan hệ với một người bán, nhà cung cấp hoặc tổng thầu chịu trách nhiệm đối với quá trình lập dự án, thiết kế thi công, mua sắm vật tư và xây lắp hoàn chỉnh để giao cho chủ đầu tư vận hành. Chủ đầu tư chỉ đứng ra duyệt thiết kế kỹ thuật, nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án đã hoàn thành đủ điều kiện đưa vào sử dụng. Người bán có thể giao thầu lại cho các nhà thầu phụ, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn bộ trước chủ đầu tư. Tuỳ theo mức độ dịch vụ mà người bán cung cấp, phương thức chìa khoá trao tay có thể được phân ra làm một số dạng như:

* Chìa khoá trao tay thuần tuý( Light turn –key):

Người bán chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình lập dự án, thiết kế thi công, mua sắm vật tư, xây lắp hoàn chỉnh, sau đó bàn giao công trình và cung cấp cho người mua một số tài liệu hướng dẫn vận hành.

*Chìa khoá kỹ thuật trao tay( Heay turn-key):

Người bán giúp người mua về dịch vụ kỹ thuật nhưng không đảm bảo kết quả vận hành đạt đúng các chỉ tiêu thiết kế của công trình.

*Sản phẩm trao tay(Product-in-hand turn-key):

Người bán đảm bảo nhận thêm nhiệm vụ đào tạo cho người mua một đội ngũ công nhân vận hành và cung cấp vật liệu sản xuất thử. Đến khi nào sản phẩm sản xuất ra đạt tiêu chuẩn về qui cách phẩm chất và các chỉ tiêu thiết kế thì mới bàn giao công trình cho người mua quản lý.

*Thị trường trao tay( Market-in hand turn-key):

Sau khi đã hoàn thành công trình, người bán giúp người mua một số hoạt động marketing và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh cho người mua.

Ở Việt Nam, phương thức này cũng được gọi là phương thức chìa khoá trao tay, tuy nhiên không áp dụng phương thức quản lý và triển khai hoàn toàn như cách phân loại phương thức chìa khoá trao tay ở trên mà áp dụng pha trộn giữa phương thức chìa khoá kỹ thuật trao tay và sản phẩm trao tay. Điều đó có nghĩa là khi nhập khẩu công trình thiết bị toàn bộ theo phương thức này, người bán giúp người mua một số dịch vụ về kỹ thuật, chịu trách nhiệm đào tạo cho người mua một đội ngũ công nhân đảm bảo vận hành công trình cho đến khi đạt kết quả vận hành, đạt các chỉ tiêu thiết kế thì mới bàn giao công trình cho người mua quản lý. Tuy nhiên, người bán không chịu trách nhiệm cung cấp nguyên liệu sản xuất thử như trách nhiệm quy định của người mua theo phương thức sản phẩm trao tay.

Nhược điểm của phương thức" Chìa khoá trao tay” về cơ bản chính là ở chỗ nó không nâng cao trình độ kỹ thuật của bên tiếp nhận nhà máy, vì phương thức này hầu như không có chuyển giao công nghệ. Người bán(nhà thầu) bàn giao nhà máy đã xây lắp, kèm theo phần kiến thức kỹ thuật để vận hành và bảo dưỡng công trình thiết bị toàn bộ đó. Phần thiết kế chế tạo chi tiết và bí quyết kỹ thuật(know-how) nhà máy không được chuyển giao hoặc chuyển giao không có hệ thống và đầy đủ. Với kiến thức ít ỏi nhận được, người mua nhiều khi không đủ khả năng tự mình làm chủ được công nghệ của các nhà máy mới được xây lắp, vì thế nên thường thấy sự có mặt của các chuyên gia nước ngoài tiếp tục ở lại sau khi công trình đã bàn giao. Như ở Malaysia, hầu hết các nhà máy công nghiệp hoá dầu đã được bàn giao cho người mua Malaysia từ đầu những năm 1980, nhưng sau đó nhiều năm vẫn do nhà thầu nước ngoài vận hành và bảo dưỡng.

Điều đó có nghĩa là, nhập khẩu theo phương thức này, người mua mới chỉ mua được"Sản phẩm của công nghệ” mà chưa mua được"Công nghệ”, tức là các kiến thức khoa học kỹ thuật và công nghệ đã sử dụng để tạo ra sản phẩm đó. Có thể hình dung việc này như một người mua một chiếc Ôtô mới, được người bán chỉ dẫn chu đáo để điều khiển và lái được một chiếc xe đó, nhưng đến khi nó hỏng hóc thì lại không hiểu tại sao và lại phải mời kỹ thuật viên đến giúp sửa chữa.

Ngày nay, ở Việt nam cũng đã xuất hiện nhiều hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ được ký kết theo phương thức BOT(Build+Operate+Transfer) hoặc BT(Build+Transfer).

Theo phương thức BOT, chủ đầu tư phải tự bỏ vốn ra xây dựng công trình, kinh doanh khai thác trong một thời gian và sau chuyển giao không bồi hoàn lại cho Chính Phủ Việt Nam. Phương thức này thường được áp dụng đối với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là một lĩnh vực đang được khuyến khích.

Như vậy, phương thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ là hết sức đa dạng, song việc áp dụng phương thức nào còn tuỳ thuộc điều kiện và khả năng về nhiều mặt của mỗi quốc gia nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Vấn đề bức thiết đặt ra là phải nghiên cứu, lựa chọn được phương thức nhập khẩu nào phù hợp, giúp giảm thiểu thời gian và kinh phí của chủ đầu tư nhưng vẫn đạt được yêu cầu đã định, có như vậy mới góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ trong giai đoạn hiện nay.

Khung pháp lý hiện nay cho hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở Việt Nam.

Từ những đặc điểm đã trình bày ở trên, có thể thấy rõ ràng, không giống như thực hiện một Hợp đồng mua bán thiết bị lẻ thông thường, công tác nhập khẩu thiết bị toàn bộ đòi hỏi cả một khoảng thời gian rất dài để có thể hoàn tất các khâu, từ chuẩn bị nguồn vốn, chuẩn bị dự án, lựa chọn phương thức thực hiện đến phê duyệt, đàm phán, ký kết, tổ chức thực hiện, và vận hành công trình. Trong suốt quá trình thực hiện, các khâu này lại chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước thông qua hệ thống các văn bản pháp luật, điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu thiết bị toàn bộ nói riêng. Yếu tố pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi quốc gia trong công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Không chỉ có vậy, trong hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng phong phú và mở rộng hiện nay, việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với điều kiện đất nước và không trái ngược với các thông lệ quốc tế sẽ góp phần quan trọng kích thích sức sản xuất xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, tạo đà phát triển kinh tế.

Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ là một công tác phức tạp, nó không chỉ đòi hỏi sự hiểu biết về chuyên môn sâu sắc mà còn đòi hỏi sự am hiểu pháp luật có liên quan ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới hiệu quả nhập khẩu thiết bị, đòi hỏi phải có hệ thống văn bản pháp quy tạo điều kiện cho việc thực hiện phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, các cấp có liên quan trong các giai đoạn nhập khẩu công trình, đặc biệt đối với các công trình được nhập khẩu bằng nguồn vốn vay của nước ngoài.

Quyết định 91/TTg ngày 13/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ

Quyết định này ban hành Quy định về quản lý nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, trong đó nêu định nghĩa và xác định rõ phạm vi hàng hoá Thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ không chỉ bao gồm phần hàng hoá hữu hình(máy móc, thiết bị, vật liệu...) mà còn bao gồm cả phần hàng hoá vô hình(thiết kế, giám sát, đào tạo, chuyển giao công nghệ...). Đây cũng là điểm chi tiết hơn so với"Điều kiện chung giao hàng và lắp ráp nhà máy và máy móc xuất nhập khẩu” số 188A của Uỷ ban kinh tế Liên Hợp Quốc cũng như định nghĩa thiết bị toàn bộ trong Thông tư 07/TT ngày7/1/1961 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo quyết định này thì Bộ thương mại giữ vai trò chính thay nhà nước quản lý việc nhập khẩu, cụ thể trong các mặt sau:

  • Quyết định cụ thể doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu;
  • Cùng các ngành quản lý hữu quan và chủ đầu tư xử lý cụ thể khi phải nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng;
  • Quy định cụ thể trình tự và phương thức nhập khẩu máy móc thiết bị;
  • Phê duyệt hợp đồng nhập khẩu cỏ trị giá nhỏ hơn 5 triệu USD, là chủ tịch Hội đồng thẩm định nhà nước phê duyệt dự án có vốn đầu tư từ 5-10 triệu USD, hoặc đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với các hợp đồng nhập khẩu lớn hơn;
  • Cấp giấy phép nhập khẩu cho từng chuyến giao hàng.

Việc đưa ra định nghĩa thống nhất và tương đối đầy đủ về thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ đã góp phần làm nền tảng xây dựng hệ thống các văn bản tiếp sau đó điều chỉnh việc nhập khẩu máy móc thiết bị, Quyết định 91/TTG ngày 13/11/1992 cùng với Thông tư 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 sau này đã góp phần thể chế hoá quá trình nhập khẩu và nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ.

Nghị định 52/1992/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ.

Nghị định ban hành Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng, được ra đời thay thế cho nghị định 42/CP ngày 16/7/1996 và Nghị định 92/CP ngày 23/8/1997, với mục đích khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất, kinh doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiêp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; sử dụng hiệu quả các nguồn vốn huy động được do nhà nước quản lý; đồng thời đảm bảo quy hoạch xây dựng, áp dụng hiệu quả công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.

Quy chế đã quy định việc phân loại dự án đầu tư theo 3 nhóm A, B, C cùng với phân cấp trách nhiệm quản lý đầu tư, quản lý vốn, thẩm định dự án đầu tư, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán của dự án đầu tư, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư... của các Bộ ngành liên quan tương ứng với từng nhóm.

Nhằm đảm bảo tính thống nhất của công tác quản lý đầu tư và xây dựng, Quy chế đã quy định trách nhiệm quyền hạn của chủ đầu tư, tổ chức tư vấn đầu tư, nhà thầu xây dựng, trình tự lập dự án đầu tư, nội dung chủ yếu của Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và Báo cáo nghiên cứu khả thi, nội dung công tác thẩm định dự án đầu tư và thực hiện đầu tư, nguyên tắc quản lý đấu thầu và chỉ định thầu trong xây dựng, tư vấn mua sắm thiết bị và xây lắp.

Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng mới này đã được bổ sung đầy đủ hơn, cố gắng đưa ra các quy định pháp luật cụ thể và chặt chẽ hơn, vì thế có ý nghĩa quan trọng trong công việc xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay. Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ vốn là một hoạt động phức tạp, không chỉ là nhập khẩu máy móc thiết bị lẻ thông thường mà là cả một phần quan trọng trong toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng cơ bản chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nhập khẩu thiết bị toàn bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, cần có những quy định hợp lý nhằm nâng cao hiệu qủa nhập khẩu.

Nghị định 88/1999/ NĐ-CP ngày 4/9/1999 của Chính Phủ.

Nghị định ban hành Quy chế đấu thầu, thay thế cho Quy chế đấu thầu đã ban hành kèm Nghị định 43/CP ngày 16/7/1996 và Nghị định 93/CP ngày 23/8/1997 của Chính Phủ, nhằm mục đích thống nhất quản lý các hoạt động đấu thầu tuyển chọn tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp và lựa chọn đối tác để thực hiện dự án hoặc từng phần dự án trên lãnh thổ Việt nam. Quy chế đấu thầu đã được đưa ra định nghĩa cho các chuyên dùng trong đấu thầu như “đấu thầu”, "đấu thầu trong nước”, "đấu thầu quốc tế “, "xét thầu”, "dự án”, "bên mời thầu”, “người có thẩm quyền”, “nhà thầu”, “cấp có thẩm quyền”, “tư vấn”, "xây lắp”...

Quy chế mới ban hành này có nhiều điểm tiến bộ so với Quy chế đã ban hành trước đó, ví dụ như trong quy định về hình thức lựa chọn nhà thầu không chỉ bao gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu mà còn đưa thêm cả hình thức chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, tự thực hiện, mua sắm đặc biệt. Thuật ngữ “Phương thức đấu thầu” cũng đã được sử dụng thay thế cho cụm từ tối nghĩa “Phương thức áp dụng”...

  • Những nội dung cơ bản của công tác đấu thầu và tổ chức đấu thầu đã được bổ sung thêm, đưa ra những quy định cụ thể hơn, hệ thống hơn, đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về đấu thầu trong việc:
  • Soạn thảo, ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy định pháp luật về đấu thầu;
  • Tổ chức hướng dẫn thực hiện;
  • Tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu của dự án thẩm định kết quả đấu thầu;
  • Phê duyệt kế hoạch đấu thầu của dự án và kết quả đấu thầu;
  • Tổ chức kiểm tra công tác đấu thầu;
  • Tổng kết, đánh giá, báo cáo tình hình đấu thầu và thực hiện Quy chế đấu thầu;
  • Giải quyết các vướng mắc, khiếu nại về đấu thầu.

Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho đến nay vẫn luôn gắn liền với hoạt động đấu thầu do thiết bị toàn bộ được đưa về Việt nam hầu như hoàn toàn thông qua phương thức đấu thầu.

Thông tư 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thương mại

Thông tư hướng dẫn thực hiện quy định về quản lý nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Đồng thời với việc đưa ra các định nghĩa về “ Thiết bị ", " Chủ đầu tư”, "Doanh nghiệp kinh doanh nghiệp xuất nhập khẩu thiết bị”, " Cơ quan chủ quản”, Thông tư đã quy định rõ các tiêu chuẩn của doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ và quyền cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu thiết bị của Bộ Thương mại.

Trong Thông tư đã quy định cụ thể về trình tự nhập khẩu thiết bị toàn bộ, nêu rõ vai trò và quyền hạn của Bộ Thương mại trong công tác quản lý điều hành hoạt động xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, cụ thể như: Bộ Thương mại có quyền chỉ định doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị; Bộ Thương mại quy định hình thức nhập khẩu thiết bị qua đấu thầu hoặc mua sắm trực tiếp...

Thông tư đã nêu rõ việc chuyển giao công nghệ là một phần của Hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ, đồng thời đưa ra điều khoản phê duyệt Hợp đồng nhập khẩu thiết bị của các cơ quan có thẩm quyền; quy định trình tự và văn bản cần thiết để phê duyệt Hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ.

Cùng với Quyết định 91/TTg của Thủ tướng Chính Phủ, đây có thể coi là một văn bản pháp quy làm nền cho các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ sau này, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ.

Một số văn bản pháp luật của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.

Hệ thống những văn bản của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã ra đời nhằm góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy móc thiết bị như Thông tư 28/TT-QLKH của cao Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ngày 22/1/1994 hướng dẫn chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt nam, Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 của Chính Phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ, Quyết định số 2578/QĐ-TĐC ngày 28/10/1996 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành quy định kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, Quyết định 1091/1999/QĐ-BKHCNMT.

Một số văn bản pháp luật về thuế, tài chính và hải quan:

Hệ thống văn bản quản lý về thuế và thủ tục hải quan cũng lần lượt ra đời, thay đổi theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đã góp phần không nhỏ vào việc điều chỉnh hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo quản lý của Nhà nước, thông qua các văn bản chính như:

  • Thông tư số 132/1998/TT-BTC ngày 1/10/1998 quy định và hướng dẫn việc áp dụng thuế nhập khẩu thiết bị đồng bộ của dây chuyền sản xuất.
  • Thông tư số 37/1999/TT-BTC ngày 7/4/1999 hướng dẫn cách phân loại hàng hoá theo Danh mục biểu thức nhập khẩu năm 1999.
  • Nghị định 16/1999/NĐ-CP ngày 27/03/1999 ban hành Quy định về thủ tục hải quan, giám hải quan và lệ phí hải quan.
  • Thông tư 01/1999/TT-TCHQ ngày 10/5/1999 hướng dẫn về thủ tục hải quan quy định tại Nghị định số16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính Phủ.
  • Quyết định 197/1999/QĐ-TCHQ ngày 3/6/1999 ban hành Quy chế quản lý hải quan đối với địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu và hàng hoá xuất nhập khẩu chuyển tiếp...
Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự