Tài liệu

Khái niệm,bản chất và nội dung của quản lý tài chính

Social Sciences

KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT

Khái niệm:

Tài chính là những mối quan hệ kinh tế trong việc phấn phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp được sử dụng cho tái sử dụng đầu tư phát triển kinh tế và giải quyết các nhu cầu thực hiện chức năng của nhà nước.

Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cơ bản trong hệ thống tài chính của nhà nước ta hiện nay, là các quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với tổ chức huy động phân phối, sử dụng và quản lý trong quá trình kinh doanh.

Bản chất:

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung nhà nước can thiệp và quản lý các hoạt động, lúc đó tiền chỉ đóng vai trog trang sức không phản ánh bản chất của sự vận động kinh tế, xã hội. Tài chính tách rời sự vận động của các quy luật kinh tế. Trong cơ chế thị trường mỗi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hoá. Các mệnh lệnh hành chính đều được thay thế bằng hệ thống pháp luật. Các doanh nghiệp đều phải tự lo nguồn vốn để đầu tư vốn cho sản xuất kinh doanh và tìm kiếm khách hàng để tiêu thụ sản phẩm theo cơ chế giá do thị trường quy định. Nó tạo ra hàng loạt các mối quan hệ qua lại dưới hình thái giá trị của các nguồn lực khác nhau. Các nguồn lực hình thành vận động và chuyển động xoay quanh thị trường tài để tạo lập nên quỹ tiền tệ và được sử dụng gắn liền với phát sinh trong quá trình hình thành phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính.

NỘI DUNG

Lựa chọn phương án đầu tư.

Phân tích dự án không chỉ nhằm khẳng định tính khả thi của dự án mà điều quan trọng nữa là việc chọn được phương án tối ưu trong các phương án có thể có. Có nghĩa là khi phân tích phải đưa ra nhiều phương án lựa chọn. Để so sánh lựa chọn phương án đầu tư tối ưu ta có thể áp dụng hai phương pháp sau:

- So sánh trực tiếp các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tài chính của dự án.

- Phân tích độ nhạy cảm của dự án theo các chỉ tiêu phản ánh mặt tài chính trong điều kiện bất định của các yếu tố có liên quan đến đầu vào và đầu ra của dự án.

Chúng ta biết rằng mục tiêu cụ thể của các dự án rất đa dạng (tạo việc làm, sản xuất hàng xuất khẩu, tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận...) trên góc độ xem xét mặt tài chính và lựa chọn các phương án đầu tư chúng ta sử dụng các độ đo hiệu quả tài chính như chi phí nhỏ nhất, thời hạn thu hồi vốn ngắn nhất, thời hạn thu hồi vốn đầu tư tăng thêm ≤ định mức, điểm hoà vốn nhỏ nhất, IRR > IRR định mức và lớn nhất; IRR của vốn đầu tư tăng thêm ≥ IRR định mức, RR ≥ RR định mức và lớn nhất, hoặc RR vốn đầu tư tăng thêm ≥ RR định mức.

Trình tự các bước so sánh lựa chọn phương án như sau:

  1. Đưa ra đầy đủ các phương án có thể có.
  2. Xác định thời kỳ phân tích so sánh (TKPT).
  3. Ước lượng các khoản thu, chi trong thời kỳ phân tích của từng phương án.
  4. Xác định các hệ số tính kéo (1 + r)n hoặc chiết khấu 1(1+r)n size 12{ { {1} over { \( 1+r \) rSup { size 8{n} } } } } {} để tính chuyển các khoản thu, chi phát sinh ở các năm khác nhau về cùng một mặt bằng thời gian.
  5. Lựa chọn chỉ tiêu đo lường hiệu quả.
  6. Tính các chỉ tiêu đo lường hiệu quả.
  7. So sánh lựa chọn phương án theo từng chỉ tiêu.

Hình thành và cải biến cơ cấu vốn kinh doanh.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại bất kỳ một doanh nghiệp nào để đảm bảo cho quá trình kinh doanh thực hiện được vấn đề đặt ra là phải có vốn. Mặt khác số vốn ban đầu đã được nhà nước quy định để đầu tư cách thành lập doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường các hoạt động đều được tiền tệ hoá vìvậy đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng tiền ứng trước hay còn gọi là vốn mục đích để giải quyết các nhu cầu đầu vào.

- Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của giá trị tài sản cố định được sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thông thường là: nhà xưởng, kho tàng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải... Những tư liệu này có thời gian sử dụng dài trên một năm, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sau mỗi chu kỳ chúng hao mòn một phần nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu vì vậy giá trị của chúng được chuyển dần từng phần cào giá trị sản phẩm.

Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định và tư liệu lao động do con người sáng taọ ra và có tính chất lâu bền trong quá trình sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định bao gồm: Tài sản cố định vô hình, hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính và tài sản cốn định tài chính doanh nghiệp. Chúng đảm bảo hai điều kiện: Thời giam sản xuất trên một năm, giá trị đạt mức độ quy định.

- Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông. Đó là số tiền mà doanh nghiệp đã ứng trước về tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động nhằm đảm bảo quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục.

Trong quá trình tham gia sản xuất sản phẩm các đối tượng lao động biến dạng chuyển từ hình thái hiện vật này sang hình thái hiện vật khác. Chúng tham gia toàn bộ và tham gia một lần vào quá trình sản xuất, giá trị của chúng được chuyển hoá toàn bộ vào giá thành sản phẩm, nó được bù đắp khi sản phẩm được tiêu thụ, thu được tiền hàng.

Vốn lưu động vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn vốn lưu động biểu diễn các hình thái khác nhau:

+ Giai đoạn 1: Đó là vốn để mua nguyên vật liệu phụ tùng... từ tiền chuyển thành vật chất được dự trữ cho sản xuất.

+ Giai đoạn 2: Đưa nguyên vật liệu dự trữ vào sản xuất sản phẩm dưới dạng bán thành phẩm, vốn ở đây chuyển thành vốn sản xuất.

+ Giai đoạn 3: Là giai đoạn tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn, vốn đã chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ.

Trong cùng một thời gian vốn lưu động của doanh nghiệp phân bố khắp ở các giai đoạn luân chuyển. Sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp là sự vận động của vật tư hàng hoá, lượng vốn tăng trưởng thể hiện lượng vật tư hàng hoá luân chuyển hiệu quả, tiết kiệm hay lãng phí.

Cải tiến cơ cấu vốn kinh doanh chính là cải tiến sự thu hút bằng nhiều hình thức từ các thành phần kinh tế. Trong nền kinh tế để hình thành các quỹ tiền tệ phục vụ sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng và phát triển kinh tế xã hội, cải biến cơ cấuq vốn là chức năng quan trọng làm việc luân chuyển vốn từ người cung cấp đến người sử dụng được tiện lợi và trôi chảy.

Xác định tốc độ chu chuyển của vốn lưu động.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất đó là giai đoạn dự trữ sản xuất lưu thông đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Số vòng quay của vốn lưu động.

Số vòng quay của vốn lưu động =
Tổng doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Chỉ tiêu còn được gọi là hệ số luân chuyển.

- Thời gian của vòng luân chuyển.

Thời gian một vòng luân chuyển =
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay của vốn lưu động

Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.

- Hệ số đảm nhận vốn lưu động.

Hệ số đảm nhận vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Tổng doanh thu thuần

Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Số vốn tiết kiệm được càng nhiều. Hệ số cho biết để có 1 đồng luân chuyển thì cần mấy đồng vốn lưu động.

Xác định chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả vốn kinh doanh.

Trong kinh doanh bất kỳ một chủ đầu tư nào khi hoạt động đều có mục đích chung đó là tối đa hoá lợi nhuận trong điều kiện cho phép. Hiệu quả kinh doanh ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Trong các tỷ suất doanh lợi luôn luôn được các nhà quản trị kinh doanh, các nhà đầu tư, các nhà phân tích tài chính quan tâm. Chúng là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh cũng như so sánh hiệu quả sử dụng vốn và mức lợi của các doanh nghiệp cùng loại.

- Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu.

Phản ánh hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh thể hiện lợi nhuận do doanh thu tiêu thụ sản phẩm mang lại. Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu =
Lợi tức sau thuế
Doanh thu thuần
x 100%

Chỉ tiêu này thể hiện cứ 100 đồng doanh thu thuần thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi tức sau thuế. Tuy nhiên để đánh giá đúng đắn ta cần phải xem xét kết hợp bản chất của ngành kinh doanh và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

- Hệ số quay vòng của tài sản:

Là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của tài sản đầu tư thể hiện qua doanh thu thuần sinh ra từ tài sản đầu tư đó. Thông qua đó đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Công thức xác định:

Hệ số quay vòng tài sản =
Doanh thu thuần
Tài sản vốn bình quân

Hệ số càng cao thì doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả. Tuy nhiên khi đánh giá hệ số quay vòng tài sản phải kết hợp xem xét bản chất của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động.

- Tỷ suất lợi nhuận/vốn sử dụng.

Là sự kết hợp của hai chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu với hệ số quay vòng tài sản. Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận/vốn sử dụng =
Lợi tức sau thuế
Vốn sử dụng bình quân

Tỷ suất này phản ánh cứ 100 đồng vốn hoạt động bình quân trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất này càng lớn chứng tỏ vốn sử dụng có hiệu quả cao và ngược lại.

- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu song phổ biến nhất là:

+ Chỉ tiêu sức sản xuất của tài sản cố định =
Lợi nhuận thuần (lãi gộp)
Nguyên giá bình quân TSCĐ

Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định mang lại mấy đồng doanh thu thuần.

+ Sức sinh lời của tài sản cố định =
Lợi nhuận thuần (lãi gộp)
Nguyên giá bình quân TSCĐ

Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định mang lại mấy đồng lợi nhuận gộp.

- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.

Hiệu quả chung về sử dụng tài sản lưu động được phản ánh qua các chỉ tiêu như sức sản xuất, sức sinh lời của vốn lưu động.

+ Sức sản xuất của tài sản lưu động =
Tổng doanh thu thuần
Tài sản lưu động bình quân

Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn lưu động đem lại mấy đồng doanh thu thuần.

+ Sức sinh lời tài sản lưu động =
Lợi nhuận thuần
Tài sản lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ảnh 1 đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lợi nhuận hay lãi gộp trong kỳ.

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự