Khái niệm công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Quản lý thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra.
Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
- Tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Thuế thu nhập cá nhân chiếm tỉ trọng chủ yếu trong số thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập của các cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức từ phía chịu thuế như hành vi trốn thuế... Để tăng cường và ổn định số thu ngân sách nhà nước trong tương lai, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng cần được chú ý để duy trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập của các cá nhân.
- Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ luật pháp để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô. ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này. Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”
ở các nước phát triển, thu nhập trung bình của người dân cao nên thuế thu nhập cá nhân đã trở nên vô cùng quen thuộc. Do là thuế trực thu nên tác động của thuế thu nhập cá nhân mang tính trực tiếp, đối tượng chịu thuế có thể cảm nhận được ngay. Họ biết mình phải nộp thuế và dần trở nên quen thuộc với việc này. Từ đó, người dân sẽ nhận thức được rõ hơn về nghĩa vụ nộp thuế của mình. Chính vì vậy, họ sẽ có ý thức rõ ràng hơn về tính pháp chế của chính sách thuế, từ đó nâng cao ý thức chấp hành chính sách này. Còn ở các nước đang phát triển, do thu nhập dân cư còn thấp nên thuế thu nhập cá nhân là vấn đề còn mới mẻ với khá nhiều người. Người dân vẫn phải nộp thuế nhưng có cảm nhận ít hơn về tác động của thuế, thậm chí không biết gì đến thuế vì chủ yếu là thuế gián thu. Người dân mua hàng hóa, dịch vụ với giá cả đã có thuế trong đó. Do đó, ý thức về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước nhìn chung là thấp hơn.
- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nền kinh tế. Các vai trò của thuế thu nhập cá nhân như đã nêu ở phần 1.1.3. Tuy nhiên việc phát huy những vai trò đó không thể tự nó đạt được mà để có kết quả thì việc thực hiện đó phải thông qua những nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước, Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thu. Nội dung của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân bao gồm :
Ban hành chính sách thuế thu nhập cá nhân
Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp. Việc ban hành chính sách thuế thu nhập cá nhân sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế thu nhập cá nhân. Đồng thời, ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này.
Để mỗi công dân đều sống và làm việc theo pháp luật thì chính sách thuế thu nhập cá nhân cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như sau:
Trước hết, việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng và chặt chẽ.Vì loại thuế thu nhập cá nhân khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chêa hành vi trốn thuế của các đối tượng nộp thuế.
Thứ hai, quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo tính công bằng đối với cả người nộp thuế và xã hội.
Thứ ba, quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân cũng cần đảm bảo tính công bằng đối với người nộp thuế và xã hội. Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội, giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động. Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ.
Ngoài yêu cầu cơ bản trên, để đảm bảo chính sách thuế thu nhập cá nhân phát huy hiệu quả cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện, bao gồm: Phát triển mạnh hệ thống thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt bằng các phương pháp bắt buộc và khuyến khích tự nguyện; cải tiến và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông tin, báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt đối với cá nhân, hộ gia đình tự doanh; Phát triển hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn, kê khai thuế chuyên nghiệp; Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức cá nhân có liên quan. Nâng cao vai trò và thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thuế; Tăng cường tuyên truyền, vận động sâu rộng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN), xây dựng cơ chế tiếp thu ý kiến thông tin phản hồi từ người nộp thuế; Tăng cường hợp tác, tranh thủ trợ giúp kỹ thuật của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế để xây dựng chính sách thuế TNCN theo các tiêu chuẩn hiện đại và đảm bảo phù hợp thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, việc xây dựng một sắc thuế thu nhập cá nhân hoàn chỉnh, có thể thỏa mãn đầy đủ các nguyên tắc trên là một điều hết sức khó khăn. Chính vì vậy, mỗi quốc gia khi xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân cho nước mình cần phải căn cứ vào tình hình thực tế, hiệu quả và chi phí kinh tế để quyết định xem cần chú trọng vào vấn đề nào hơn.
Những nội dung cơ bản của chính sách thuế thu nhập cá nhân :
Đối tượng nộp thuế
Thuế thu nhập cá nhân thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế thu nhập cá nhân, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới , còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó.
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó.
Hiện nay, đa số các nước tính thuế thu nhập cá nhân theo tiêu thức “nơi cư trú”. Tuy nhiên, khái niệm thế nào là một cá nhân cư trú tại một nước lại được định nghĩa khác nhau trong luật thuế thu nhập cá nhân của các nước. Rất có nhiều nước quy định cá nhân cư trú là người định cư tại nước đó hoặc những người đến nước đó không thường xuyên nhưng tổng số ngày ở tại nước đó vượt quá 183 ngày trong một năm (năm dương lịch hay năm tài chính). Tuy nhiên, một số nước lại đưa ra những định nghĩa về cá nhân cư trú cụ thể hơn và có điểm khác với định nghĩa nêu trên.
Ví dụ như Nhât Bản đưa ra một định nghĩa tương đối phức tạp, trong đó có 3 khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cá nhân cư trú không thường xuyên và cá nhân không cư trú. Cụ thể là :
+ Cá nhân cư trú thường xuyên là cá nhân định cư thường xuyên ở Nhật Bản liên tục trong vòng 5 năm .
+ Cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có nơI thường trú ở Nhật từ 1 năm trở lên và không được quá 5 năm .
+ Cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại Nhật Bản và sống tại Nhật Bản ít hơn 1 năm .
Các cá nhân nước ngoài đến Nhật Bản sẽ được coi là có nơi cư trú tại Nhật Bản trừ khi các hợp đồng lao động hoặc các giấy tờ khác chỉ rõ rằng họ sẽ ở lại Nhật Bản ít hơn một năm.
Các cá nhân cư trú thường xuyên bị tính thuế trên thu nhập từ mọi nguồn ; các cá nhân cư trú không thường xuyên bị tính thuế trên thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài nhưng được trả tại Nhât Bản hoặc chuyển đến Nhật Bản.
Các cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập có nguồn gốc từ Nhật Bản.
ở Pháp, một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi Pháp là nơi ở chính, hành nghề chính hay có các trung tâm quyền lợi đặt Pháp hoặc thường xuyên có mặt ở Pháp trên 6 tháng trong 1 năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập.
Luật thuế thu nhập cá nhân của Mỹ lại quy định: cá nhân cư trú là công dân Mỹ và những người cư trú ở Mỹ tối thiểu 330 ngày đêm.
Đối với Hàn Quốc, cá nhân cư trú là người có nhà ở hoặc nơi cư trú tại Hàn Quốc trong thời hạn một năm trở lên.
Thụy Điện quy định mọi công dân Thụy Điển và người nước ngoài đang cư trú tại Thụy Điển có thu nhập từ bất kỳ đâu, đều là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, trừ trường hợp người Thụy Điển ở nước ngoài trên 6 tháng.
Luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam quy định, công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi lao động, công tác ở nước ngoài; cá nhân khác định cư không thời hạn ở Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam từ 183 ngày trong 12 tháng liên tục được coi là cư trú ở Việt Nam là đối tượng nộp thuế thu đối với mọi khoản thu nhập chịu thuế.
Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào.
Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định nghĩa sao cho phù hợp với tình hình của mình.
Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú. Có rất ít nước áp dụng duy nhất tiêu thức này khi xác định đối tượng nộp thuế. Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hớp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài.
Luật Pháp quy định, công dân Pháp và những người tạm trú từ sáu tháng trở lên tại nước này (bất luận quốc tịch nào) có chức nghiệp và lợi ích kinh tế tại Pháp đều phải kê khai và đóng thuế.
Theo luật Đức, cư dân thường trú và dân nước ngoài không thường trú có nguồn thu nhập tại Đức đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân .
Hàn Quốc quy định đối tượng nộp thuế là toàn bộ các cá nhân là người cư trú hoặc không ở Hàn Quốc. Trong đó, người không cư trú ở Hàn Quốc là người có thời hạn ở Hàn Quốc dưới 1 năm và chỉ phải nộp thuế thu nhập với thu nhập phát sinh ở Hàn Quốc.
ở Hồng Kông, mọi cá nhân không phân biệt “ cư trú” hay “không cư trú” chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Hông Kông đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước này.
Trung Quốc thi đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là những người có thu nhập trên 1500 nhân dân tệ (ba triệu đồng Việt Nam) mới phải đóng thuế thu nhập cá nhân.
Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm :
1. Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài có thu nhập;
2. Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam có thu nhập (sau đây gọi là cá nhân khác định cư tại Việt Nam)
3. Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không sinh sống tại Việt Nam nhưng có thu nhập tại Việt Nam .
Đối tượng tính thuế
Việc xác định đối tượng tính thuế là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế thu nhập cá nhân của các nước. Căn cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế thu nhập cá nhân mà từng nước cụ thể áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho ngân sách nước đó. Đối tượng tính thuế ở đây là một số khoản thu nhập nằm trong diện tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân của từng quốc gia. Để tính được thuế thu nhập cá nhân phải nộp trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là đối tượng tính thuế và tính toán thu nhập đó như thế nào. Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ… cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, từ thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ xác định được thuế phải nộp.
Trước hết, chúng ta cần xác định một khái niệm cho thuật ngữ “thu nhập”. Cho đến nay, hầu hết các đạo luật về thuế thu nhập cá nhân ở các nước thường chỉ quy định những khoản thu nhập nào phải tính thuế. Tuy nhiên, trên thực tế cũng tồn tại một số quan niệm về thu nhập như sau:
+ Thu nhập là giá trị nhận được của một pháp nhân hay thể nhân nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh.
+ Giá trị đó có thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay các giá trị vật chất, phi vật chất nhưng có thước đo chung là tiền tệ.
+ Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân.
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng thu nhập cá nhân là giá trị một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó.
Điều thực sự cần làm đối với ngành thuế mỗi nước là phải xác định đối tượng tính thuế từ thu nhập sao cho người nộp thuế chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao. Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong việc thu thuế thu nhập cá nhân.
* Thu nhập được phân loại theo những tiêu thức nhất định để xác định đối tượng tính thuế:
- Theo thời gian, người ta chia thu nhập thành thu nhập thường xuyên và không thường xuyên.
- Theo nguồn tạo ra thu nhập, người ta chia thành thu nhập từ lao động, thu nhập từ đầu tư, thu nhập khác.
+ Thu nhập từ lao động: là khoản thu nhập thường xuyên nhận được dưới dạng thu nhập từ kinh doanh, hành nghề tự do như tiền lương, tiền công hoặc các khoản thù lao khác mà cá nhân nhận được trong quá trình lao động.
+ Thu nhập từ đầu tư: lãi cổ phần, lãi cho vay, tiền bản quyền…
+ Thu nhập khác: lãi từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ quà biếu, quà tặng , tiền nhuận bút, trúng xổ số…
Theo chủ thể hưởng thu nhập, người ta chia thu nhập thành: thu nhập công ty, thu nhập cá nhân, thu nhập chính phủ …
Không phải nước nào cũng đưa tất cả các nguồn thu nhập ở trên vào diện thu nhậo tính thuế. Việc quy định khoản thu nhập nào phải tính thuế , khoản nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc vào quan điểm của mỗi chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như các mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội khác của mỗi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Ngày nay, hầu hết các nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân đều tính thuế trên thu nhập từ lao động. Đối với các khoản thu nhập từ đầu tư và thu nhập khác thì tùy tưng nước trong từng hoàn cảnh cụ thể sẽ có những quy định riêng. Chính vì thế, với hai loại thu nhập này có thể gặp trường hợp: tuy cùng là một khoản thu nhập nhưng có thể phải tính thuế ở nước này mà không phải tính thuế ở nước khác hoặc trong cùng một nước nhưng lại phải tính thuế với mức độ khác nhau ở những thời điểm khác nhau.
* Những nguyên tắc khấu trừ để xác định thu nhập tính thuế:
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế thu nhập cá nhân là đối tượng tính thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ đi các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một số giới hạn nhất định. Tùy theo đặc điểm kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia mà người ta quy định những khoản khấu trừ phù hợp. Tuy nhiên, về cơ bản có một nguyên tắc chung: Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã - hội trước khi tính thuế.
- Các khoản khấu trừ có tính chất kinh tế để xác định thu nhập.
Cá nhân có các khoản thu sẽ phải trả những khoản chi phí này. Do vậy, sẽ có một khoản tiền trong các khoản thu của cá nhân mà người ta chỉ tạm thời sở hữu chứ không được toàn quyền sử dụng tương ứng với chi phí này. Khoản tiền này sẽ nhanh chóng được chuyển quyển sở hữu cho người khác khi người đó chi trả các chi phí trên. Thật vậy, các chi phí để tạo ra thu nhập cần được khấu trừ để xác định thu nhập của mỗi cá nhân.
- Đối với thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nguyên tắc khấu trừ là tất cả các chi phí cần thiết và liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người nộp thuế đã thực hiện bao gồm: lương công nhân, chi phí thuê mướn, tiền trợ cấp, chi phí mua vật tư, nguyên liệu, chi phí bảo hiểm, các chi phí về dịch vụ được cung cấp từ bên ngoài, khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc và một vài chi chi phí phân bổ chung…
Quy định chung để khấu trừ các phí tổn này là chi phí đã thực sự chi trả và cần thiết liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra thu nhập. Trong thực tế, rất khó xác định ranh giới được khấu trừ hay không được khấu trừ nên thông thường phải có những khống chế hoặc giới hạn tối đa rất tỷ mỉ, chặt chẽ thì mới có thể quản lý được. Về nguyên tắc một cá nhân cần phải có các chứng từ hợp lệ để chứng minh được các chi phi mà mình phải bỏ ra liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập. Tuy nhiên, quản lý được chi phí thực tế rất khó. Nhiều trường hợp, cá nhân không có đủ chứng từ hợp lệ để chứng minh chi phí mình bỏ ra, do đó, có những trường hợp Nhà nước sẽ khoán một chi phí định mức cho cá nhân theo một số tiêu chuẩn nhất định.
- Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương tự.
Với thu nhập loại này, người ta cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp bao gôm:
+ Các khoản đóng góp xã hội: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tuổi già…
+ Các khoản chi phí nghề nghiệp được khấu trừ theo quy định : có thể tính chung theo một tỷ lệ khoán (ví dụ khoảng 10% hoăc 15%) hoặc theo chi tiêu thực tế nếu có các chứng từ hợp lệ chứng minh.
Một số nghề đặc biệt do tính chất nghề nghiệp sẽ được khấu trừ một mức phù hợp, cao hơn mức bình thường trước khi tập hợp vào tổng thu nhập tính thuế như : ca sĩ, nhà báo, nhạc công…
- Đối với thu nhập từ lãi cổ phần, lãi cho vay, lãi tiền gửi…
Đối tượng tính thuế là số lãi thu được trừ bớt chi phí, thường là chi phí mua các chứng khoán có giá.
- Đối với thu nhập từ thừa kế
Đây là khoản thu nhập tính thuế có tính chất đặc biệt do người thừa kế phải chịu trách nhiệm cả về những nợ nần của người quá cố. Do đó, đối tượng tính thuế là số chênh lệch dương giữa tài sản thừa kế và các khoản nợ của người thừa kế, ngoài ra còn được trừ thêm một khoản không phảI tính thuế tùy theo quan hệ thừa kế là trực hệ, quan hệ vợ chồng hay quan hệ khác.
- Các khoản chi tiêu mang tính chất xã hội, khoa học, những thu nhập mang tính chất trợ cấp xã hội, giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, người già không nơi nương tựa, người tàn tật.
Đây là một trong những đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân là có quan tâm đến sinh hoạt của đối tượng nộp thuế và tính thuế theo khả năng. Điều này cũng cho thấy thu nhập cá nhân luôn gắn với các chính sách xã hội. Những khoản chi cá nhân thường được xem xét để khấu trừ khi xác định đối tượng nộp thuế là:
- Những chi phí đặc biệt bao gồm: chi phí có tính chất tiêu dùng như bảo hiểm y tế, các khoản đóng góp bắt buộc theo luật định như tiên nuôI dưỡng bố mẹ, tiền đóng góp bảo hiểm xã hội… Các khoản chi này có thể được khấu trừ không hạn chế hoặc có giới hạn cho từng khoản tùy theo chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Các khoản được khấu trừ có giới hạn thường là các khoản chi phòng xa như khoản đóng góp bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
- Các khoản trả có tính chất lương như trợ cấp ốm đau, lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp… được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội . Đây là những khoản được tính vào chi phí kinh doanh nên chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, về nguyên tắc thì với người nhận chúng phải là khoản thu nhập tính thuế . Tuy nhiên, do chúng là đối tượng của chính sách xã hội nên nhiêu nước không thu thuế đối với các khoản thu nhập này.
- Các khoản phúc lợi xã hội như những chi phí bắt buộc bao gồm những khoản về thuốc chũa bệnh, sử chữa nhà cửa, thiên tai, dịch họa hoặc chi phí của người tàn tật…
Thu nhập được sử dụng cho các khoản chi phí này thường được miễn thuế thu nhập. Sở dĩ như vậy là để bảo đảm bảo có sự bình đẳng với những người không phải chi những khoản chi phí này.
- Các khoản chi phí cá nhân khác nhằm tái tạo sức lao động, chi phí đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của cá nhân.
- Các khoản chi phí nuôi con, mangtính chất gánh nặng gia đình cũng được quy định thành một khoản khấu trừ tùy theo quan điểm của Nhà nước cần khuyến khích gia đình đông con hay không. Dù được phép khấu trừ nhưng thông thường cũng chỉ theo một mức đồng loạt cho từng đầu trẻ em, không đảm bảo được sự công bằng giữa người có thu nhập thấp và người có thu nhập cao.
Tất cả các khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ thể gọi là suất miễn thu.
Các phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân được chia làm hai loại riêng biệt: thuế thu nhập cá nhân theo khoản và thuế thu nhập cá nhân tổng hợp.
* Thuế thu nhập cá nhân theo khoản :
Đó là thuế thu nhập cá nhân được xác định theo từng nguồn thu nhập . ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau. Do đó, tổng số thuế phải nộp chính là tổng số thuế thu nhập mà họ phải nộp theo từng nguồn. Thuế thu nhập cá nhân theo khoản tồn tại với hai nguyên tắc: tính thuế độc lập và có phân biệt thuế suất với các loại thu nhập khác nhau. Từ đó, nó cho phép điều chỉnh tăng giảm mức đóng góp về thuế tùy theo nguồn gốc thu nhập, có sự phù hợp giữa kỹ thuật tính thuế với đặc điểm của mỗi loại thu nhập.
* Thuế thu nhập cá nhân tổng hợp :
Đó là loại thuế được tính trên tổng thu nhập tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại. Thông thường, theo cách tính này, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.
Căn cứ để xác định thuế thu nhập cá nhân phải nộp là thu nhập tính thuế và thuế suất. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân có thể tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định hoặc được xác định theo thuế suất lũy tiến từng phần, lũy tiến toàn phần hay lũy thoái tùy theo quan điểm về mục đích sử dụng thuế thu nhập cá nhân của mỗi quốc gia. Do đó, phù hợp với mỗi đặc trưng của thuế suất, thuế thu nhập cá nhân lại được tính theo một phương pháp riêng, bao gồm:
- Phương pháp tính thuế theo tỷ lệ: theo phương pháp này , thuế được tính theo thuế suất tỷ lệ. Mức thu quy định bằng một tủ lệ phần trăm của cơ sở thuế và không thay đổi theo quy mô của cơ sở đó. Loại thuế suất này được sử dụng phổ biến trong nhiều sắc thuế đang áp dụng trên thế giới.
- Phương pháp tính thuế theo lũy tiến từng phần: thuế suất được dùng trong phương pháp này là thuế suất lũy tiến từng phần: thuế suất tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở thuế. Với các sắc thuế áp dụng loại thuế suất này, cơ sở thuế được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần. ứng với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thuế đó là một mức thuế suất biên. Số thuế mà đối tượng phải nộp bằng tổng số thuế tính theo từng bậc. Việc tính toán và kiểm tra loại thuế này nhìn chung khá phức tạp nhưng cách tính này đảm bảo số thuế phải nộp tăng dần, không bị đột biến cùng với tốc độ tăng của cơ sở thuế , đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc cao và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập. Chính vì vậy, thuế thu nhập cá nhân ở rất nhiều nước áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần.
- Phương pháp tính thuế lũy tiến toàn phần: theo phương pháp này, biểu thuế cũng bao gồm nhiều bậc ứng với mỗi mức tăng lên của thuế suất nhưng toàn bộ cơ sở thuế được áp dụng một thuế suất chung tương ứng. Thuế suất lũy tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng. Tuy vậy, cách tính này có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế. Mặc dù giá trị của cơ sở thuế có thể thay đổi không đáng kể nhưng người chịu thuế lại phải nôp một thuế suất tương ứng tăng lên cho toàn bộ cơ sở thuế. Do đó, số thuế phải nộp tăng cao. Sự tăng thuế này dễ dẫn đến phản ứng từ phía đối tượng nộp thuế, làm giảm vai trò của thuế.
- Phương pháp tính thuế với thuế suất lũy thoái: thuế suất được áp dụng trong phương pháp này là thuế suất lũy thoái. Đây là loại thuế có tính chất ngược lại với thuế suất lũy tiến, tức là mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở thuế lại tăng dần. Nói chung, thuế suất lũy thoái không được áp dụng phổ biến.
Trong nội dung thuế thu nhập cá nhân, đối với thu nhập từ lao động thì hầu hết các nước áp dụng hệ thống đa thuế suất, với cơ chế thuế suất lũy tiến từng phần. Tuy nhiên, có một số nước không thu thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công như Bruney. Một số nước khác như Iceland chỉ áp dụng một thuế suất cố định đối với mọi khoản thu nhập là 39% .
Đối với thu nhập từ đầu tư như lãi cổ phần , lãi cho vay, tiền bản quyền..., ở nhiều nước thuế suất thường quy định mức 10%, 15%, 20% hoặc 25%. Trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản là người nước ngoài thì tùy theo Hiệp định ký kết giữa các nước mà quy định mức thuế cụ thể khác nhau.
Nhiều nước cũng quy định tính thuế suất riêng cho một số khoản thu nhập mang tính chất không thường xuyên ( thặng dư tài sản, quà biếu, quà tặng ) theo một mức nhất định.
Số lượng thuế suất trong biểu thuế của các nước cũng rất khác nhau. Có nước chỉ áp dụng hai thuế suất như Thủy Điển. Tuy nhiên, phần lớn các nước áp dụng ba hay sáu mức thuế suất như Nhật Bản (5 mức thuế suất), Hàn Quốc (6 mức thuế suất) …
Bên cạnh đó, cũng có một số nước áp dụng nhiều thuế suất như Ai Cập (23 mức thuế suất).
Hiện nay, trong việc tính thuế thu nhập cá nhân thường có hai dạng quy định:
+ Dạng 1: áp dụng mức khởi điểm tính thuế.
+ Dạng 2: Không áp dụng mức khởi điểm tính thuế.
Theo cách tính thuế này, hầu hết các cá nhân có thu nhập đều phải nộp thuế. Nhìn chung, những nước không áp dụng mức khởi điểm lại áp dụng cơ chế suất miễn thu.
Đơn vị tính thuế
Cá nhân có thu nhập hoặc là hộ gia đình thường là đơn vị tính thuế. Vì thuế thu nhập cá nhân ảnh hưởng đến hoàn cảnh gia đình của người nộp thuế nên cần phân biệt cá nhân có gia đình với cá nhân độc thân khi tính thuế. Với cá nhân độc thân, nhiều người cho rằng cần phải tính thuế cao hơn cá nhân có gia đình vì họ chỉ phải chi phí cho bản thân họ. Nhưng có người lại cho rằng nên tính thuế thấp hơn đối với những người này vì họ đã chịu thiệt thòi do không được hưởng hạnh phúc gia đình. Nói tóm lại, mỗi đơn vị tính thuế đều có những ưu nhược điểm khác nhau.
Tính thuế thu nhập cá nhân trên thu nhập thực tế của từng cá nhân có ưu điểm là đơn giản, dễ làm, thu kịp thời cho ngân sách nhưng lại có nhược điểm là chưa đảm bảo được yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế, chưa đáp ứng được tính công bằng xã hội.
Các nước như: Anh, Nhật, Thụy Điển, áo, Đan Mạch đã tính thuế thu nhập cá nhân trên thu nhập của từng cá nhân. Ngược lại, ở các nước Mỹ, Pháp, Hà Lan lại sử dụng thu nhập của các hộ gia đình để tính thuế thu nhập cá nhân. Cách tính thuế này sẽ đảm bảo công bằng hơn về đạo đức xã hội nhưng mất tính kịp thời trong động viên thuế cho nhà nước vì trong một gia đình, mỗi cá nhân thường có việc làm và nguồn thu nhập khác nhau, do đó việc thống kê theo dõi từng nguồn thu nhập rồi đối chiếu với nơi phát sinh là rất phức tạp.
Thời gian tính thuế
Việc xác định thời gian tính thuế là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện luật thuế bởi vì thời điểm tính thuế phỉ là thời điểm thuận lợi cho công tác quản lý thu cũng như việc kê khai và nộp thuế của người dân và phải chịu đảm bảo giá trị của đồng tiền nộp thuế trước tình trạng lạm phát, đảm bảo việc chi tiêu theo kế hoạch của nhà nước, tránh được việc chiếm đoạt tiền thuế.
Thông thường, các nước xác định mức thuế phải nộp từng năm. Ưu điểm của việc sử dụng khoảng thời gian năm là đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên của chính phủ để trang trải các chi phí vì các kế hoạch kinh tế -xã hội của chính phủ được đặt ra và thực hiện trong từng năm. Dự kiến nguồn thu ngân sách cũng được đặt ra hàng năm. Đây là khoảng thời gian hợp lý cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cơ sở hệ thống kế toán ở các doanh nghiệp đơn vị kinh tế hạch toán, quyết toán.
Về miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân
Các nước cũng có quy định về vấn đề này tùy theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội của từng quốc gia.
Ví dụ như Mỹ quy định “suất miễn giảm thu nhập” cho người nộp thuế trong trường hợp này phải chứng minh được rằng mình phải cung cấp quá nửa sự hỗ trợ cho cá nhân ăn theo thì sẽ được miễn thu 2350 USD/năm. Mức này được xác định theo tỷ lệ lạm phát từng năm có sự điều chỉnh.
Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân
Sau khi đã được phê chuẩn và ban hành, chính sách thuế thu nhập cá nhân được tổ chức thực hiện. Đây là khâu đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế. Nhờ việc tổ chức thực hiện chính sách thuế và quá trình tính, thu thuế mới diễn ra trong thực tế, đồng thời cá quy định về quá trình này mới đến được với mọi người dân thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế. Nội dung tổ chức thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
- Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công trong việc thực hiện các chính sách thuế còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như người nộp thuế. Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội, cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế. Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, sau đó tới mọi người dân.
Để thành công trong tuyên truyền, phổ biến thuế thì các cơ quan thuế có thể thông qua phương tiện thông tin đại chúng, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thuế thu nhập cá nhân…
+ Đối với cán bộ thuế: Việc tập huấn nghiệp vụ về một chính sách thuế nào đó cho các cán bộ ngành thuế, nhất là cán bộ cơ sở thường được tiến hành ngay sau khi Nhà nước ban hành một chính sách thuế mới hoặc sửa đổi bổ sung một chính sách thuế đã có. Thông qua tập huấn, các cán bộ thuế có thể nắm chắc được các chính sách thuế từ mục đích, ý nghĩa đến nội dung cụ thể, đủ khả năng chuyên môn và làm tròn nhiệm vụ một tuyên truyền viên giỏi về thuế .
+ Đối với mọi người dân trong xã hội: công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa vụ thuế và nội dung của các chính sách thuế đến mọi tầng lớp dân cư cần phải được tiến hành đều đặn, thường xuyên.
- Tiến hành Tổ chức quản lý thu thuế
Đây là nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Muốn thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân, cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân. Đội ngũ này cần phải được tổ chức một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học. Nếu làm được điều này, chúng ta sẽ vừa tiết kiệm được chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện tốt công tác này. Những nội dung của công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân. Quản lý tốt đối tượng nộp thuế sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Trong công tác quản lý đối tượng nộp thuế, chúng ta chưa biết chính xác ai là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ . Do đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu. Hàng năm, cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký đối tượng nộp thuế. Phương thức thủ công và quản lý bằng mạng vi tính là hai phương thức đăng ký đối tượng nộp thuế thường được áp dụng. Vì đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân ở đây nhiều và không tập trung nên phương thức quản lý bằng mạng vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Theo phương thức này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế và cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nước. Mỗi đối tượng nộp thuế được gắn với một mã số duy nhất. Mọi thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế được nạp vào máy vi tính với một file riêng mà tên file là mã số của đối tượng nộp thuế. Khi cần kiểm tra một đối tượng nộp thuế, cơ quan quản lý chỉ cần mở file theo mã số của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các đối tượng nộp thuế đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế.
Các các tính thuế và nộp thuế:
- Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho các đối tượng nộp thuế làm việc trong đơn vị mình và có thu nhập do đơn vị mình chi trả. Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của đối tượng nộp thuế, cơ quan chi trả thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trước thuế của đối tượng nộp thuế để đem nộp cho cơ quan thuế. Cơ quan chi trả thu nhập sẽ được hưởng một khoản tiền theo tỉ lệ trên số thuế thu được và nộp cho cơ quan thuế.
- Đối tượng nộp thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức thuế mình phải nộp. Sau đó, các đối tượng nộp thuế sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan thuế và tiến hành nộp khoản thuế cho cơ quan thuế hay cơ quan có chức năng thu thuế. Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các đối tượng nộp thuế phải nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết. Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế, cả cho đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế cũng như cơ quan ủy nhiệm thu.
Thanh tra thuế thu nhập cá nhân
Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế. Thanh tra thuế được thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên ngành thuế. Đối tượng thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế. Mục tiêu thanh tra thuế là phát hiện và xử lý các trường hợp sai trái nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời cũng qua quá trình thanh tra, cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Thanh tra thuế được thực hiện dưới cá hình thức và phương pháp khác nhau.
Hình thức thanh tra :
- Các hình thức thanh tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra:
+ Hình thức thanh tra thường xuyên được thực hiện mang tính định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý thuế.
+ Thanh tra đột xuất là hình thức thanh tra mang tính bất thường và đối tượng thanh tra không được biết trước. Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía các đối tượng nộp thuế hoặc trong các cơ quan thuế để có biện pháp xử lý.
- Các hình thức thanh tra xét theo phạm vi và nội dung :
+ Thanh tra toàn diện : Được tiến hành với tất cả các nội dung thanh tra thuế, hoặc với tất cả đối tượng thanh tra. Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế.
+ Thanh tra có trọng điểm : Được tiến hành chỉ với một số nội dung, một số đối tượng. Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và tổ chức thanh tra , từ đó rút ra các kết luận chung cho toàn hệ thống.
Phương pháp thanh tra thuế
Tùy theo mục đích, yêu cầu và đối tượng thanh tra mà người ta áp dụng phương pháp thanh tra thuế thích hợp. Một số phương pháp sau thường được áp dụng:
- Phương pháp kiểm tra, đối chiếu.
- Phương pháp phân tổ, thu nhập các thông tin về sự việc.
Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai phương pháp này trong trường hợp cần thiết.
Tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng như các sắc thuế khác. Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của từng nước, bộ máy quản lý thuế cũng được xây dựng một cách tương ứng. Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp. Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước và bao gồm: cơ quan thuế trung ương, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện như Trung Quốc, Việt Nam… Ngoài ra, ở một số quốc gia thì hệ thống ngành thuế còn được tổ chức theo các dạng khác.
ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế
Trong mô hình này, các phòng ban riêng biệt được thành lập để quản lý một số loại thuế cụ thể. Do vậy, mỗi phòng ban phải thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ để quản lý các loại thuế được phân công. Có thể nói, đây là “mô hình quản lý khép kín” đối với mỗi loại thuế.
Mô hình tổ chức theo chức năng
Theo mô hình này, người ta tổ chức các phòng ban chức năng riêng rẽ trong một cơ quan thuế. Mối phòng ban thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cả các sắc thuế như phòng xử lý tờ khai thuế, phòng tính thuế, phòng kiểm tra đối tượng nộp thuế…
Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế
Theo mô hình này, đối tượng nộp thuế được chia thành các nhóm, dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế… Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm quản lý cung cấp những thông tin đầy đủ về từng nhóm đối tượng nộp thuế.
Mỗi nước sẽ lựa chọn một mô hình cụ thể tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thuế, đảm bảo nguồn thu kịp thờicho ngân sách nhà nước và đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội. Có những nước có thể lựa chọn kiểu mô hình pha trộn giữa các kiểu trên.