Tài liệu

Phụ từ “đã” và việc biểu thị ý nghĩa thời trong tiếng Việt

Science and Technology

Phụ từ “đã” và việc biểu thị ý nghĩa thời trong tiếng Việt

Trần Kim Phượng

Khoa Ngữ văn- Đại học Sư phạm HN

KHÁI QUÁT VỀ TỪ ĐÃ

Theo Từ điển tiếng Việt, đãcó khả năng là một tính từ, một phụ từ hoặc một trợ từ. Khi mang tư cách một phụ từ, đãcó thể đứng trước động từ hoặc đứng cuối vế câu (thường trong câu cầu khiến, chẳng hạn: Nghỉ cái đã!) Đã cũng có thể xuất hiện dưới dạng các tổ hợp hay thành ngữ: đã đành, đã đời, đã trót phải trét (9, tr266).

Thông thường, khi đứng trước vị từ, đãbiểu thị một sự tình xảy ra trước một thời điểm mốc nào đó. Ý nghĩa thời quá khứ tuyệt đối của đãtrong tiếng Việt về cơ bản tương đương với ý nghĩa của hình thái Past Simple trong tiếng Anh. Ví dụ:

- I called him last night.

(Tối qua tôi đã gọi điện thoại cho anh ấy)

ĐÃ TRONG VIỆC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA THỜI

Người Việt Nam chúng ta, cho đến bây giờ, đã quá quen với ý nghĩ cho rằng trong tiếng Việt, đã biểu hiện thời quá khứ, đang biểu hiện thời hiện tại và sẽ biểu hiện thời tương lai. Thực tế không giản đơn như vậy. Với phụ từ đã lại càng không. Bản thân đã có rất nhiều tầng ý nghĩa. Căn cứ vào những ý nghĩa mà đã biểu thị trong câu, chúng tôi chia phụ từ này làm 3 loại chính. Trong đó, có thể khẳng định đã chỉ biểu hiện ý nghĩa thời quá khứ một cách thuần tuý (tức là ý nghĩa quá khứ tuyệt đối) trong không nhiều trường hợp. Còn lại, đã có thể biểu hiện ý nghĩa tương lai hay hiện tại cho vị từ đứng trước nó, thậm chí còn biểu thị những sự tình có tính chất phi thời gian…

“Đã” biểu hiện ý nghĩa quá khứ tuyệt đối

Đãbiểu thị một sự tình xảy ra trước thời điểm nói hoặc trước một thời điểm mốc nào đó. Thời điểm được chọn làm mốc nằm trong quá khứ.

  • Ngay lần gặp đầu tiên, cô đãnói thẳng với Tâm...

(LL – HN - 113)

Trong trường hợp này, đã bổ sung một nét nghĩa duy nhất cho động từ đi sau, đó là khẳng định hành động nói xảy ra và kết thúc trước thời điểm nói. Tuy nhiên, vấn đề kết thúc/chưa kết thúc của các sự tình phụ thuộc rất nhiều vào các động từ, tính từ mà đã bổ nghĩa. Trong trường hợp này, có thể tạm thời kết luận: Đã thuần tuý chỉ thời.

Đã có thể được dùng kết hợp với các trạng ngữ chỉ thời gian trong quá khứ. Lúc bấy giờ, ý nghĩa quá khứ càng được biểu hiện rõ ràng hơn. Có hai loại trạng ngữ chỉ thời gian. Một loại chỉ thời gian trực tiếp (hôm qua, tháng trước...), loại kia chỉ thời gian gián tiếp (thuở còn đi học, trước khi gặp và yêu anh...) VD:

Loại thứ nhất:

- Mấy hôm trước, Thủy đã kể với tôi...

(LL – HN - 155)

Loại thứ hai:

  • Trước lúc gặp cô ấy, tôi đã gặp một cô gái khác trẻ hơn.

(CL – AMDV - 9)

“Đã” biểu hiện ý nghĩa quá khứ tương đối

Thời điểm được chọn làm mốc không phải là một thời điểm trong quá khứ mà là một thời điểm nào đó trong hiện tại hoặc trong tương lai. So với các thời điểm ấy, đã vẫn biểu thị một hành động xảy ra trước.

Thời điểm được chọn làm mốc là thời hiện tại.

Hành động có thể bắt đầu từ một thời điểm nào đó trong quá khứ, kết quả của hành động còn lưu ở hiện tại và có thể kéo dài đến tương lai.

  • Khi đó nó bé lóc cóc như cái tẩy, nay đã thành ông phó chủ tịch đạo mạo phương phi.

(CL – AMDV - 8)

Việc nó trở thành ông phó chủ tịch đạo mạo phương phi xảy ra trước thời điểm nói và dĩ nhiên hiện nay ông ta vẫn đang ở trong cái thể trạng như vậy và có thể trong tương lai, ông ta cũng vẫn như thế. Đã không chỉ biểu hiện ý nghĩa quá khứ mà còn (và chủ yếu là) biểu hiện nét nghĩa tình thái: Thể trạng này của ông phó chủ tịch xảy ra khá nhanh và khá bất ngờ đối với người phát ngôn.

Thời điểm được chọn làm mốc là thời tương lai.

Đã trong trường hợp này biểu hiện nét nghĩa tình thái, nhấn mạnh vào kết quả của hành động. VD:

  • Bằng giờ này ngày mai, tôi đã ở Huế rồi.

(Khẩu ngữ)

Đã vẫn biểu hiện ý nghĩa quá khứ nhưng là quá khứ của tương lai. Việc tôi có mặt ở Huế vào ngày mai được nhấn mạnh. Hàm ý của người nói là sự việc này xảy ra nhanh, đặc biệt trong kiểu câu so sánh giữa thời điểm hiện tại và tương lai: Hôm nay tôi ở Hà Nội nhưng ngày mai, tôi đã ở Huế rồi. Trường hợp này rất khác với: Bằng giờ này ngày mai, tôi sẽ ở Huế hay Bằng giờ này ngày mai, tôi đang ở Huế. Các câu này chỉ nhấn mạnh vào sự hiện diện của tôi ở Huế chứ không có hàm ý là sự việc này xảy ra nhanh).

Đã biểu hiện những sự tình phi thời gian.

Đã biểu thị những sự tình lặp đi lặp lại, có tính quy luật. Câu chứa đã thường mang màu sắc triết lý.

- Đã bước ra khỏi cửa là em phải mang kính râm để sau này đỡ loá mắt.

(LL – HN - 27)

Trong trường hợp này, đã không còn biểu hiện sự việcxảy ratrước một thời điểm nào đó mà chủ yếu biểu hiện tính hiện tại của sự tình. Rõ ràng ý nghĩa quá khứ của đã ở đây rất mờ nhạt. Đã cơ bản biểu hiện sự nhấn mạnh, khẳng định một sự bất di bất dịch nào đó và đôi khi câu chứa đã mang bóng dáng của thành ngữ. Cấu trúc này thường đem lại cho người đọc những câu văn khá thú vị, những nhận xét tinh tế của người viết hay những giọng điệu phản ánh sâu sắc cá tính của một nhân vật nào đó trong tác phẩm.

Cấu trúc Đã là... thì... ta gặp khá nhiều trong cách nói thông thường hàng ngày, khẳng định một điều có tính quy luật, đã được mọi người công nhận. Chẳng hạn:

  • Đã là người Hà Nội thì phải thanh lịch.

(Khẩu ngữ)

Đã được dùng trong cấu trúc giả thiết (điều kiện) - kết quả. Khi ấy, đã biểu hiện ý nghĩa quá khứ đối chiếu với thời điểm đang được giả định.

  • Nếu không có hai tay tôi và hắn túm chặt lấy nhau thì tôi đã ngã ra rồi.

(LL - HN - 142)

Thông thường, đã biểu hiện một sự việc xảy ra rồi song trong cấu trúc này, đã biểu hiện một sự việc không xảy ra. Thực chất là tôi đã không ngã. Việc tôi ngã chỉ được thực hiện trong một điều kiện nhất định: hai tay tôi và anh không túm chặt lấy nhau.

Các kết hợp: vừa... đã...; mới... đã...; chỉ... đã...; còn... đã...; thoáng... đã...; ngay... đã... biểu hiện ý nghĩa nhấn mạnh: Sự tình xảy ra sớm, nhanh, quá mức mong đợi khiến người ta sửng sốt, ngạc nhiên.

  • Nhưng anh vừa dứt lời, bác đã bảo...

(LL - HN - 33)

  • Mới đỏ đã tưởng chín.

(LL - HN - 34)

  • Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đãchặt cành

Đắp cho người dưới mộ.

(Thơ Hoàng Lộc – Viếng bạn)

Các kết hợp này có hai vế: một vế (chứa các từ vừa, mới, còn thoáng, ngay, chỉ...) biểu thị mức độ thấp, sớm hay ít của một hành động, sự việc nào đó mà lẽ ra nó có thể kéo dài hơn; vế kia biểu thị một sự việc, hành động khác, xảy ra bất ngờ, nhanh hơn bình thường.

Một số trường hợp không có sự xuất hiện của các từ ở vế thứ nhất, nhưng trong cấu trúc của chúng luôn luôn có khả năng chứa những từ ấy và vế thứ hai vẫn có đã thì toàn câu vẫn mang hàm ý nhấn mạnh vào nét nghĩa quá sớm, quá nhanh và đôi khi là bất ngờ của sự tình. Ví dụ:

  • Ra khỏi cổng, anh đã thấy vợ mình đi theo bác Địa.

(LL - HN - 22)

Câu này tương tự như câu:

  • Vừa ra khỏi cổng, anh đã thấy vợ mình đi theo bác Địa.

Cao hơn mức độ của vừa ... đã..., mới... đã... là chưa... đã... Nếu như vừa, mới, chỉ... biểu thị mức độ thấp, ít, nhanh hay sớm của một sự tình nào đó thì chưa biểu thị mức độ ấy bằng con số không, nghĩa là sự việc, hành động ở vế thứ nhất đã bị triệt tiêu hoàn toàn. Sự nhấn mạnh được nâng lên ở mức cao hơn. Đôi khi đây là cách nói phóng đại của người Việt.

Ví dụ:

  • Chưa đánh roi nào đã khóc.

(Thơ GN - QH)

Về mức độ của chưa... đã so với vừa... đã..., ta có thể làm phép so sánh:

  • Anh vừa dứt lời, bác đã bảo... Hành động dứt lời đã kết thúc.
  • Anh chưa dứt lời, bác đã bảo... Hành động dứt lời chưa kết thúc. Câu này kém tính lịch sự hơn so với câu thứ nhất.

Rõ ràng mức độ của chưa... đã... cao hơn vừa... đã...

Ngược lại với cấu trúc chưa... đã là cấu trúc đã... chưa. Đã... chưa có thể xuất hiện trong hai loại câu: câu trần thuật và câu nghi vấn.

* Đã... chưa trong câu trần thuật

  • Tôi đã đi nhiều nơi mà chưa thấy nơi nào đẹp như nơi này.

(Khẩu ngữ)

Đã ở đây vẫn có nét nghĩa quá khứ song còn thêm nghĩa tình thái: biểu hiện một sự việc xảy ra muộn, chậm hơn so với bình thường, lẽ ra nó phải xảy ra sớm hơn, nhanh hơn, nhiều hơn.

* Đã... chưa trong câu nghi vấn:

Đây là một trong những mẫu câu nghi vấn cố định trong tiếng Việt. Người nói muốn biết về sự xảy ra / chưa xảy ra của một sự việc hay hành động nào đó nên yêu cầu người nghe xác nhận điều này. Đã ở đây có nét nghĩa quá khứ. Ví dụ:

  • Thực sự là chú đã yêu cô ta phát rồ dại chưa?

(LL - HN - 118)

Với sự việc đã được thực hiện, trong câu trả lời chính danh sẽ có sự xuất hiện của phụ từ rồi, (ít khi là đã).Với sự việc chưa được thực hiện, trong câu trả lời sẽ có sự xuất hiện của phụ từ chưa. Ví dụ:

Có hai câu trả lời cho câu hỏi: Anh đã ăn cơm chưa? là:

  • Tôi ăn rồi. (Thậm chí: Rồi.)
  • Tôi chưa ăn.

Trường hợp Tôi đã ăn rồi rất ít gặp.

Với loại câu hỏi này, người nói rất quan tâm tới kết quả của hành động. Đã biểu thị một sự việc đã kết thúc.

Về mặt vị trí, có một biến thể của đã... chưa đó là đã... chưa không nằm trong cùng một vế câu như trên mà nằm ở hai vế khác nhau. Đây là dạng câu trần thuật phủ định. Ví dụ:

  • đã năm tuổi mà vẫn chưa biết nói.

Việc nó chưa biết nói khi đã năm tuổi được đánh giá là muộn so với mức độ thông thường. (Một đứa trẻ bình thường ngoài một tuổi đã biết nói). Chính bản thân từ đã đã mang nét nghĩa nhấn mạnh.

Đã trong câu có ý nghĩa phủ định

Có một số cách diễn đạt làm cho câu mang ý nghĩa phủ định dù hình thức có thể là câu trần thuật hay nghi vấn. Chẳng hạn:

  • Trong cả cuộc đời nhọc mệt, tôi nào đã có bao giờ được nghe một giọng hỏi dịu mềm đến thế.

(CL - AMDV - 11)

Câu này tương đương với: Tôi chưa bao giờ được nghe một giọng hỏi dịu mềm đến thế.

  • Mà tôi đã no đâu? Đã ăn được gì đâu?

(CL - AMDV - 29)

Câu này tương đương với: Tôi chưa no. Tôi chưa ăn được gì.

Trong các trường hợp trên, đã chủ yếu mang nghĩa tình thái: nhấn mạnh. Đã thông thường biểu hiện sự việc xảy ra rồi, được dùng kết hợp với có bao giờđâu (những từ biểu hiện sự việc chưa xảy ra hoặc đang còn nghi vấn) làm cho câu ngoài ý nghĩa phủ định còn thể hiện thái độ của người nói: một chút tức tưởi, than thở, một chút phàn nàn, oan uổng... So sánh hai cách diễn đạt, ta có thể thấy ngay điều ấy.

Kết luận

  1. Đã có khả năng biểu hiện ý nghĩa thời quá khứ một cách tuyệt đối: Hành động xảy ra trước thời điểm mốc. Thời điểm được chọn làm mốc này nằm trong quá khứ.
  2. Về cơ bản, đã mang trong mình nét nghĩa quá khứ. Song vẫn có một số trường hợp, ngoài ý nghĩa quá khứ, đã còn có ý nghĩa tình thái. Một số trường hợp, đã mất hẳn ý nghĩa quá khứ, chỉ còn ý nghĩa tình thái.
  3. Việc có mặt của từ đã để biểu hiện ý nghĩa quá khứ trong câu tiếng Việt không phải là một sự bắt buộc. Do vậy, khó có thể nói rằng trong tiếng Việt có phạm trù thời. Tất nhiên, để khẳng định điều này, cần có những nghiên cứu sâu hơn.

Hà Nội 10 tháng 11 năm 2003

Tài liệu tham khảo chính

  1. Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng, Vấn đề phạm trù thì trong tiếng Việt (qua một cuộc đối thoại), T/c Ngôn ngữ, Số 7, 2003.
  2. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt, từ loại, Nxb Đại học Quốc gia, H., 2001.
  3. Cao Xuân Hạo, Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, Số 5, 1998
  4. Cao Xuân Hạo, Bắt buộc và tùy ý, về hai cách biểu đạt trong ngôn ngữ, T/c Ngôn ngữ, Số 9, 2002.
  5. Panfilov V.X., Các cấp thể và các chỉ tố tình thái- thể trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, Số 2, 1979.
  6. Panfilov V.X., Một lần nữa về phạm trù thì trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, Số 7, 2002.
  7. Nguyễn Phú Phong, Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt. Loại từ và chỉ thị từ, Nxb ĐHQGHN, H., 2002.
  8. Nguyễn Minh Thuyết, Các tiền phó từ chỉ thời, thể trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, Số 2, 1995.
  9. Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1998
  10. Uỷ ban khoa học xã hội, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb KHXH, H., 1983.

Nguồn tư liệu

  1. Chu Lai, Ăn mày dĩ vãng, (CL - AMDV) NXB Văn học, 1999.
  2. Lê Lựu, Hai nhà, (LL - HN), NXB
Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự