Tài liệu

Tìm hiểu tiến trình ngữ pháp học việt nam

Science and Technology

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN

***************************

Tìm hiểu tiến trình ngữ pháp học việt nam

(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường)

Người thực hiện: Ths. Trần Kim Phượng

Cán bộ giảng dạy khoa Ngữ văn

Hà Nội 2004

Mở đầu

Tính cấp thiết của đề tài.

Chúng ta đã bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI. Trên mọi lĩnh vực, mọi ngành khoa học, người ta bắt đầu đề cập tới vấn đề nhìn lại chặng đường một thế kỷ đã qua; tổng kết, đánh giá những ưu điểm, những tồn tại để lấy đó làm hành trang bước vào thế kỷ mới.

Ngành ngôn ngữ học nói chung và ngữ pháp học nói riêng cũng rất cần một tổng kết có tính chất hệ thống về những gì đã đạt được trong suốt thời gian ấy.

Có thể coi cái mốc đầu tiên đánh dấu cho sự ra đời của ngành ngữ pháp học Việt Nam là thế kỷ XVII, với cuốn Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh của Alexand de Rhode, xuất bản tại Rome năm 1651. Tuy nhiên, tiến trình ngữ pháp học Việt Nam, tính đến giai đoạn này, lại chủ yếu nằm trọn trong thế kỷ XX. Cho đến nay, chưa có một công trình nào đề cập một cách hệ thống về toàn bộ tiến trình ngữ pháp học Việt Nam nói chung, hay ngữ pháp học Việt Nam thế kỷ XX nói riêng. Rải rác trên các sách báo, các chuyên luận là những tác giả được giới thiệu một cách đơn lẻ, là những vấn đề ngữ pháp được trình bày một cách độc lập. Chỉ có Nguyễn Văn Hiệp đề cập tới vấn đề cú pháp, Diệp Quang Ban đánh giá vấn đề ngữ pháp của nửa cuối thế kỷ XX..

Quả là chúng ta đang rất cần một công trình giới thiệu một cách tương đối trọn vẹn về các tác giả, các tác phẩm tiêu biểu và những vấn đề ngữ pháp nổi bật của toàn bộ tiến trình ngữ pháp học Việt Nam.

Từ những bức xúc ấy, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: Tìm hiểu tiến trình ngữ pháp học Việt Nam làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

Mục đích lớn nhất của đề tài là dựng nên bức tranh chung nhất về toàn bộ tiến trình ngữ pháp học Việt Nam, đặc biệt là trong thế kỷ XX.

Để đạt mục đích nói trên, đề tài đề ra những nhiệm vụ sau đây:

- Nêu bật những đóng góp của các nhà ngữ pháp học tiêu biểu cho sự hình thành và phát triển của ngữ pháp học nói riêng và ngành ngôn ngữ học nói chung.

- Chỉ ra những hạn chế không tránh khỏi của thời đại lịch sử đối với mỗi tác giả tiêu biểu.

- Tổng kết một số vấn đề nổi bật của ngữ pháp học: vấn đề từ loại, vấn đề thành phần câu, vấn đề phân loại câu, vấn đề cấu trúc chủ – vị và cấu trúc đề – thuyết, vấn đề thời - thể.

- Trên cơ sở những tổng kết ấy, làm rõ đôi nét về những bàn giao của thế kỷ XX cho những người nghiên cứu ngữ pháp ngày hôm nay.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài.

- Chỉ tập trung trình bày những tác giả và những công trình nghiên cứu tiêu biểu về ngữ pháp, đặc biệt là ở thế kỷ XX, chứ không phải tất cả những nhà ngữ pháp học cùng với tất cả các công trình của họ.

- Chỉ đi sâu khai thác những đóng góp nổi bật nhất của các tác giả ấy trong từng vấn đề nhất định cùng với một vài hạn chế của họ (nếu có).

- Chỉ tìm hiểu những vấn đề ngữ pháp tiêu biểu, không tìm hiểu toàn bộ các vấn đề ngữ pháp.

- Trong khi tìm hiểu những vấn đề này, chỉ dừng ở mức độ thống kê và nhận xét khái quát.

Dự kiến đóng góp của đề tài.

- Là bản tổng kết có tính chất chung nhất, hệ thống nhất về toàn bộ tiến trình ngữ pháp học Việt Nam, bởi tất cả những nghiên cứu của các tác giả đi trước đều chỉ dừng ở một số khía cạnh nhất định, trong những giai đoạn nhất định.

- Các nhà ngữ pháp học tiêu biểu, các công trình ngữ pháp tiêu biểu, các vấn đề ngữ pháp tiêu biểu đã được tổng kết là cơ sở lý luận cần thiết cho những nghiên cứu chuyên sâu về ngữ pháp và là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người làm công tác giảng dạy phân môn này trong trường phổ thông và đại học.

Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp diễn dịch và quy nạp.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể là phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh - đối chiếu…

Cấu trúc và dung lượng của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài bao gồm 47 trang, chia làm 2 chương:

Chương 1:Điểm qua những tác giả và những công trình nghiên cứu tiêu biểu theo dòng chảy thời gian

Trong chương này, chúng tôi chủ yếu dừng lại ở các tác giả tiêu biểu, có nhiều đóng góp đáng ghi nhận đối với toàn bộ sự phát triển của ngành ngữ pháp học Việt Nam ngày hôm nay. Chúng tôi cũng tập trung phân tích phần nào những hạn chế của mỗi tác giả, do hoàn cảnh lịch sử mang lại. Các vấn đề được trình bày theo trình tự thời gian, tức là theo lát cắt dọc của toàn bộ tiến trình.

Chương 2:Những vấn đề ngữ pháp tiêu biểu

Trong chương này, trước hết chúng tôi trình bày nhận xét chung về cả tiến trình theo các giai đoạn lịch sử cụ thể, sau đó tập trung vào những vấn đề nổi bật như: vấn đề từ loại, vấn đề thành phần câu, vấn đề phân loại câu, vấn đề cấu trúc chủ - vị và cấu trúc đề – thuyết, vấn đề thời và thể… Để có một cái nhìn sâu hơn, bổ sung cho chương 1, các vấn đề trong chương 2 này được trình bày theo lát cắt ngang của toàn bộ tiến trình ngữ pháp học Việt Nam.

Điểm qua những tác giả và những công trình nghiên cứu tiêu biểu theo dòng chảy thời gian

Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh và những nét phác thảo đầu tiên cho bức tranh ngữ pháp tiếng Việt (1651)

Bàn về tiến trình ngữ pháp học thế kỷ XX, chúng tôi xin được bắt đầu bằng việc quay ngược thời gian, trở về với thế kỷ XVII, thế kỷ đánh dấu sự ra đời của thứ chữ văn minh mà chúng ta đang sử dụng ngày hôm nay – chữ quốc ngữ.

Năm 1651, cuốn Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh của Alexand de Rhode được xuất bản tại Rome. Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên ấy đã chính thức mang một thứ chữ ghi âm vô cùng đơn giản, tiện lợi và khoa học vào Việt Nam. Cuốn sách này cũng chứa đựng bên trong nó cả những vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt (tiếng miền Bắc). Đó là những vấn đề về cú pháp, được trình bày dưới dạng các luật, đề cập tới trật tự và chức năng của từ trong câu. Đó là những vấn đề về từ loại – một trong những nội dung cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp truyền thống, bao gồm những từ biến hình (danh từ, đại từ, tính từ, động từ) và những từ không biến hình… Tất cả phạm trù từ loại tiếng Việt được mô tả theo khung của tiếng Latinh, theo cơ cấu dịch chuyển và mô phỏng. Sau đó hai thế kỷ, những năm 1855 – 1906, trong các sách tiếng Việt thực hành, những vấn đề về từ loại vẫn được viết theo hướng tương tự.

Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh là cuốn từ điển đầu tiên ở nước ta, do một người nước ngoài viết, và bằng tiếng nước ngoài. Còn quá sớm để nói rằng nó là cuốn sách mở đầu cho sự ra đời của ngành ngữ pháp học Việt Nam song có thể khẳng định: nó đã phác thảo những nét ban đầu cho bức tranh ngữ pháp tiếng Việt sau này.

Trương Vĩnh Ký và cuốn sách ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên (1883)

Năm 1883, cuốn sách viết về ngữ pháp tiếng Việt sớm nhất chính thức ra đời ở Việt Nam – cuốn Grammaire de la langue Annamite của học giả Trương Vĩnh Ký. Ông là người sinh cùng thời với Ferdinand de Saussure, rất thiệt thòi vì chưa được đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, (cuốn sách ra đời năm 1916), để kịp biết tới cái hệ lý thuyết của ngôn ngữ học hiện đại mà Saussure là người khởi xướng. Song những cống hiến của ông cho ngôn ngữ học Việt Nam là vô cùng lớn lao. Ông không nghiên cứu gì về cú pháp cả song lại có những thành công đáng kể về từ loại, theo khuynh hướng truyền thống. Ông đã liệt kê được một danh sách rất tỷ mỷ bao gồm hơn 200 danh từ đơn vị (Sau này Nguyễn Tài Cẩn gọi là loại từ). Mặc dù trong danh sách ấy có những từ bị xếp nhầm, nhưng trước và sau Trương Vĩnh Ký, chưa có ai làm được việc này. Ông cũng thống kê trong tiếng Việt có khoảng 300 tính từ cùng với các yếu tố đi kèm (như: chua lòm, xanh lét…) Ông cũng có những đóng góp ít nhiều khi bàn tới vấn đề cách của danh từ, với quan điểm Tiếng Việt không có cách chân chính như tiếng Latinh… Muốn biểu thị cách trong tiếng Việt, người ta dùng những hư từ riêng biệt (81, tr 68, 69) …

Mặc dù vẫn còn bị những định kiến dĩ Âu vi trung chi phối, song Trương Vĩnh Ký và cuốn sách sớm nhất viết về ngữ pháp tiếng Việt cách đây hơn 2 thế kỷ vẫn là một đóng góp hết sức quan trọng cho ngành Việt ngữ học từ buổi đầu thơ ngây của nó. Trương Vĩnh Ký xứng đáng là nhà ngôn ngữ học đầu tiên ở Việt Nam.

Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm và khuynh hướng “từ bản vị” trong nghiên cứu cú pháp (1940)

Năm 1940, cuốn Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm ra đời. Cuốn sách chào đời trong giai đoạn mà các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu là do các nhà ngôn ngữ học nước ngoài viết (như M. Grammông, P. G Vallot, R. Bulteau…) Kém họ ở những hiểu biết chung về cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học, song ba tác giả, vốn không phải tất cả đều là dân chuyên nghiệp này, vẫn hơn hẳn họ ở chỗ là những người bản ngữ, sinh ra đã biết tiếng Việt. Vì vậy ba ông đã có những đóng góp đáng kể trong việc lý giải các sự kiện ngôn ngữ. Với cố gắng thoát khỏi lối mô phỏng, sao chụp châu Âu của ngữ pháp truyền thống, ba ông đã có những nhận xét tinh tế và những kiến giải độc lập về vấn đề từ loại, đặc biệt là những nghiên cứu khá sâu về danh từ. Việc chia động từ ra làm hai loại: có túc từkhông có túc từ (79, tr 218 - 251) là một ưu điểm giúp ta có thể nắm được đặc tính cú pháp của một số động từ… Các tác giả cũng đã bắt đầu nhận thấy những bất hợp lý trong việc gò tiếng Việt vào khung ngữ pháp châu Âu. Song dù sao đi nữa, những hạn chế không tránh khỏi của thời đại khi nước nhà chưa độc lập vẫn in dấu trong nghiên cứu của các nhà ngữ pháp học Việt Nam trước 1945 nói chung và ba tác giả Trần, Bùi, Phạm nói riêng. Đặc biệt là ở quan niệm lấy từ làm trung tâm trong nghiên cứu cú pháp, một khuynh hướng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngữ pháp Âu châu thời bấy giờ. Quan niệm này không thể áp dụng vào tiếng Việt hay các ngôn ngữ cùng loại hình đơn lập (như tiếng Hán, tiếng Thái…), bởi trong các ngôn ngữ này, xác định từ là một việc không dễ dàng. Quan điểm Từ bản vị tồn tại cho đến những năm 1950 thì đi vào tàn lụi.

Về mặt phương pháp nghiên cứu, các tác giả của Việt Nam văn phạm đã từng phát biểu: Tiếng nói là cách biểu diễn cái tư tưởng của người ta ra cho người khác biết… Cách biểu diễn ấy tuy khác, nhưng bao giờ cũng phải theo cái lý cho thuận. Đã theo lý thì dù đông, dù tây, đâu đâu cùng một lý cả. Vậy theo phương pháp của Tây mà phân ra các từ loại, tưởng không phải là sự sai lầm. (79, tr11). Đây chính là một nhược điểm do sự lẫn lộn giữa ngữ pháp và logic (ảnh hưởng của ngữ pháp duy lý mà các học giả phương Tây đã sùng bái từ thế kỷ XVII) gây ra. Vậy là dù đã cố gắng, Việt Nam văn phạm vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Dù sao, việc phân chia từ loại theo kiểu mô phỏng các ngôn ngữ châu Âu cũng có giá trị thực tiễn một thời.

Lê Văn Lý và những ảnh hưởng của ngôn ngữ học cấu trúc – chức năng (1948, 1968)

Năm 1948, Lê Văn Lý viết Le parler Vietnamien. Sách của ông là tuyên ngôn đầu tiên tuyên bố từ bỏ việc đi theo ngôn ngữ châu Âu để nghiên cứu tiếng Việt. Ông cũng là người đầu tiên mang phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc (theo lối chức năng Praha) đến với lĩnh vực nghiên cứu cú pháp. Lý thuyết về khả năng kết hợp của ông là một minh chứng cho những điều đó. Trước ông, chưa có ai đề xuất ra tiêu chí giá trị kết hợp để phân chia từ loại. Ông khá xuất sắc trong việc miêu tả đặc điểm của danh từ trong sự đối lập với động từ và tính từ. Ông cũng nhận ra tính từ trong tiếng Việt có thể đứng cạnh động từ chứ không đi liền với danh từ như ngôn ngữ châu Âu… Năm 1968, ông viết cuốn Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam. Cuốn sách không dày nhưng đề cập tới những vấn đề của ngôn ngữ học trên diện rộng: vấn đề âm vị học, vấn đề hình thái học, vấn đề cú pháp học. Ông đã cố gắng phân tích những âm vị, sự phối hợp các âm vị, trình bày các từ loại, các hạng mục ngữ pháp, các kiểu câu… Đặc biệt, với sự miêu tả các loại câu: câu tự loại, câu đơn giản, câu phức tạp, câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh, câu cảm thán, ông đã vượt qua chính mình trong Le parler Vietnamien khi phác thảo ngữ pháp tiếng Việt bằng 24 kiểu tổ hợp cùng từ loại, 70 kiểu tổ hợp khác từ loại, 29 kiểu đặt câu với 5 từ và với những hoán vị khác nhau.Tuy tên gọi các thành phần câu của ông vẫn là một sự mô phỏng tiếng Pháp theo khuynh hướng từ bản vị (chủ từ, túc từ…); tuy sự phân biệt động từ/tính từ của ông chưa triệt để, rõ ràng (vì chỉ căn cứ vào từ chứng); tuy về ngữ pháp, ông tuyên bố không quan tâm đến nghĩa (không bao giờ cầu cứu đến ý nghĩa để hướng dẫn công việc vì như thế sẽ là chạy theo ngữ cảm); tuy những trang viết về ngữ âm học của ông vẫn còn lỗi sai (chẳng hạn ông cho rằng, thanh điệu nằm ở phần nguyên âm, thực ra thanh điệu nằm chủ yếu ở phụ âm)…; song cuốn sách của ông vẫn có một giá trị lịch sử rất lớn. Nó mở đầu cho khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ theo trường phái cấu trúc – chức năng Praha và do đó, đánh dấu một mốc chuyển biến đáng kể trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt những năm sau Cách mạng tháng Tám.

M.B. Emeneau và ngữ pháp cấu trúc theo lối miêu tả (1951)

Một trong những nhà ngôn ngữ học nước ngoài rất tâm huyết với việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt là M.B. Emeneau. Đây là một đại diện tiêu biểu của khuynh hướng cấu trúc luận – khuynh hướng ngữ pháp cấu trúc theo lối miêu tả thịnh hành ở Anh, Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. M.B. Emeneau không phải là người nước ngoài duy nhất nghiên cứu về tiếng Việt, cũng không phải là người nước ngoài sớm nhất làm công việc này, song ông đã vượt xa những nhà ngôn ngữ học ở trường Viễn đông Pháp chỉ quan tâm tới các trạng thái cổ, các hệ thống ngữ âm cổ của Việt ngữ, vượt xa P.G. Vallot, R. Bulteau… những người đã ra sức gò cú pháp tiếng Việt theo tiếng Pháp. Xuất phát điểm của ông là nghiên cứu Việt ngữ trong trạng thái hiện nay. Cuốn sách của ông, Studies in Vietnamese grammar, xuất bản năm 1951, đã thổi vào ngữ pháp học Việt Nam một luồng sinh khí mới, một phương pháp nghiên cứu mới. Cuốn sách rất chú trọng tới những miêu tả ngữ âm và loại từ trong tiếng Việt. Công dụng của những từ cụ thể cũng được bàn tới khá chi tiết. Đặc biệt, chính ông, (chứ không phải Nguyễn Tài Cẩn), là người đầu tiên dựng nên sơ đồ của toàn danh ngữ tiếng Việt, bằng cách đưa ra giản đồ về cấu tạo thực thể từ có số trong tiếng Việt (62, tr35, 68). Ông cũng chú ý tới việc phân chia câu thành hai loại: câu danh từ và câu động từ… Phương pháp làm việc của tác giả cũng khá thuyết phục, bởi đã cố gắng đi tìm những chứng cớ thực sự khách quan.

Tuy nhiên, là một người nước ngoài nghiên cứu tiếng Việt, M.B. Emeneau không thể tránh khỏi những thiếu sót. Cái đáng tiếc nhất của tác giả là đã vô hình trung loại đơn vị từ ra khỏi cấp hệ ngôn ngữ, bằng cách đồng nhất từ đơn với âm tiết và hình vị; xếp từ ghép vào địa hạt cụm từ. Dù sao, kết quả nghiên cứu của ông cũng rất cần thiết cho giai đoạn lịch sử ấy và rất đáng được trân trọng.

Bùi Đức Tịnh và Văn phạm Việt Nam (1952)

Từ trong khói lửa đạn bom của một cuộc chiến đấu mới sau khi nước nhà đã giành được độc lập, Văn phạm Việt Nam của Bùi Đức Tịnh ra đời. Cuốn sách là lời ngợi ca Việt ngữ, thứ tiếng mà chúng ta mới chính thức được dùng từ năm 1945, là lời kêu gọi mọi người trút bỏ mọi thành kiến sai lầm đối với văn phạm học, nhìn tiếng Việt bằng con mắt Việt. Hướng nghiên cứu của Bùi Đức Tịnh về cơ bản không có gì mới, vẫn theo lôgic truyền thống và khuynh hướng từ bản vị, song Văn phạm Việt Nam vẫn là một đóng góp đáng kể trong tiến trình ngữ pháp học thế kỷ XX.

Nội dung cơ bản của cuốn sách trên là sự trình bày tổng quát về văn phạm học, các đặc tính của tiếng Việt, các từ loại tiếng Việt và các vấn đề về cú pháp. Nguyên tắc làm việc của tác giả là lấy ngôn ngữ thông dụng làm đối tượng khảo sát, nhằm tính cách thực dụng hơn là nghiên cứu. Tác giả cho rằng ngữ pháp học phải có một phương pháp khoa học, thực hiện với một tinh thần khoa học (1, tr12). Những đóng góp cụ thể của tác giả có thể kể đến là: (1) Bùi Đức Tịnh là người đầu tiên biết phân biệt động từ với tuyên ngữ (vị ngữ). Trước đây, ngữ pháp học truyền thống không chú ý tới sự khác biệt này. (2) Bùi Đức Tịnh cho rằng câu gồm hai thành phần chủ yếu là chủ ngữtuyên ngữ (1, tr 244), chứ không phải ba (chủ ngữ + động từ + bổ ngữ) như trong các ngôn ngữ Ấn - Âu. (3) Ông cũng là người đầu tiên phân loại danh từ không theo truyền thống (môt sự phân loại mô phỏng theo tiếng Pháp). Theo ông, danh từ tiếng Việt phải chia thành danh từ chung và danh từ riêng, danh từ xác định và danh từ phiếm định. Ông cũng có những thành công nhất định khi mô tả những đặc trưng của các tiểu loại danh từ.

Tuy nhiên, Văn phạm Việt Nam vẫn không tránh khỏi những thiếu sót do hạn chế của thời đại mà Bùi Đức Tịnh, dù đã cố gắng, vẫn không thể vượt lên. Ông vẫn lấy ý nghĩa của các từ loại trong tiếng Latinh và tiếng Pháp làm tiêu chuẩn phân định từ loại. Ông có những lẫn lộn khi xác định từ loại trạng từ. Mặc dù là người đầu tiên biết phân biệt động từ và tuyên ngữ, song có lúc ông lại phủ nhận điều ấy, chẳng hạn như khi định nghĩa động từ thì ông lại phát biểu: Động từ là những tiếng chỉ việc xảy ra cho những người và vật nói đến trong câu (1, tr179). Sự phân loại danh từ của ông cũng không triệt để. Quan niệm về các phạm trù ngữ pháp (giống, số, thời, thể…) cũng chỉ là một sự mô phỏng, chứ không căn cứ vào đặc trưng riêng của tiếng Việt. Những trang viết về ngữ âm còn có sự lẫn lộn giữa âm tố và âm vị, nguyên âm đôi và nguyên âm đơn…

Song, với những thành công đáng kể của Văn phạm Việt Nam từ những ngày nước nhà vừa độc lập, Bùi Đức Tịnh xứng đáng là một trong những người đóng vai trò tiên phong cho sự hình thành và phát triển của ngành ngữ pháp Việt Nam.

Phan Khôi và hành trình từ bỏ khuynh hướng “từ bản vị” sang “cú bản vị” trong nghiên cứu cú pháp (1955)

Phan Khôi là một nhà văn hoá có một tâm hồn, trí tuệ và nhân cách lớn. Với một vốn hiểu biết rộng, không chỉ về tiếng Việt, mà còn cả tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, bằng một sự trân trọng và yêu quý hết mực ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, Phan Khôi đã từng trăn trở suốt bảy năm (từ 1948 đến 1955), khát khao viết được một cuốn sách về ngữ pháp tiếng Việt cho đâu ra đó (72, tr5). Khát khao ấy của ông bắt nguồn từ cảm hứng khi được đọc cuốn sách dày năm trăm trang Tân trước quốc ngữ văn pháp của Lê Cẩm Hy, bàn về ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi ra đời, là một tập hợp những bài viết riêng lẻ của ông về tiếng Việt, trên một phương pháp luận: Giữa các ngôn ngữ khác nhau vẫn tồn tại những cái giống nhau (ông gọi là đại đồng), và mỗi ngôn ngữ lại có một đặc trưng riêng biệt, (ông gọi là tiểu dị). Ông cố công đi tìm cái tiểu dị ấy trong tiếng Việt. Ông phê phán khuynh hướng từ bản vị trong nghiên cứu cú pháp, bởi theo ông, nó không hợp với tiếng ta, thứ tiếng mà mỗi chữ, công dụng của nó chỉ có khi nào dùng vào trong câu mới phân biệt, chứ tự nó không phân biệt sẵn bởi hình của nó (72, tr187). Cần phải theo cú bản vị: lấy tổ chức của câu làm gốc, làm phần chính trong sự dạy văn pháp. Bắt đầu từ câu ngắn rồi đến câu dài, từ câu đơn rồi đến câu kép, rồi sau nữa đến những câu ấy hợp lại mà thành một bài, một thiên. Trong khi ấy mới tuỳ ở vị trí, chức vụ của từng từ mà quy nhập nó vào loại nào, và nhân đó mà nhìn rõ công dụng của nó (72, tr188). Ông đề nghị cách dùng đồ giải để phân tích câu. Ông cũng chủ trương phân biệt tự, từ, ngữ, cú. Về thành phần câu tiếng Việt, ông cho rằng có 6 thành phần: chủ ngữ, vị ngữ (còn gọi là thành phần chủ yếu); tân ngữ, bổ túc ngữ (thành phần liên đới); hình dung phụ gia ngữ, phó từ phụ gia ngữ (thành phần phụ gia). Về từ loại, ông phân biệt chín thứ từ, xếp vào 5 loại: (1) danh từ, (2) đại danh từ, xếp vào loại thể từ; (3) động từ, vào loại thuật thuyết từ; (4) hình dung từ, (5) phó từ, xếp vào loại khu biệt từ; (6) giới từ, (7) liên từ, xếp vào loại quan hệ từ; (8) trợ từ, (9) thán từ vào loại tình thái từ. Danh sách các thành phần câu và các từ loại mà ông đề nghị đến nay đã có nhiều thay đổi. Song việc căn cứ vào chức năng cú pháp để xác định từ loại vẫn là một gợi ý quý báu cho ngành ngữ pháp học trên con đường hoàn thiện của mình.

Quan điểm học thuật của Phan Khôi rất tiến bộ. Ông cho rằng: Công dụng của mỗi từ phải là khi nó ở trong câu mới thấy được rõ. Điểm này rất trùng với quan điểm của Wittgenstein: Nghĩa của một từ chính là cách dùng nó trong câu. Từ quan điểm ấy, ông nêu rõ: Vậy nếu khi chưa biết phép đặt câu mà cứ dạy cho phân tích các từ loại, kẻ học dù có biết được rành mạch chữ nào thuộc về từ loại nào chăng nữa, sự học cũng thấy vô vị, dễ chán (72, tr186). Phải chăng từ những năm giữa thế kỷ XX, chúng ta đã có một gợi ý cho việc đổi mới quy trình dạy ngữ pháp ngược lại với quy trình mà hiện nay chúng ta vẫn đang sử dụng: đi từ phạm vi văn bản, đến đoạn văn, đến câu, ngữ và từ?

Mặc dù ông là con ngưòi nổi tiếng về chứng lôgic máy móc, có lúc không phân biệt ngữ pháp và lôgic, mặc dù ông tự nhận xét về những trang viết của mình là nông nổi, lẻ loi, vụn vặt; song so với các sách ngữ pháp trước đó, Việt ngữ nghiên cứu của ông khá sáng sủa, gần gũi và dễ tiếp nhận đối với người đọc. Phan Ngọc và Nguyễn Lân là những người kế cận xứng đáng của ông. Việt ngữ nghiên cứu quả là một đóng góp hữu ích cho loại hình học và ngữ pháp học trên con đường phát triển của nó.

Nguyễn Lân và bộ sách “Ngữ pháp Việt Nam” đầu tiên viết cho trường phổ thông (1956)

Cho đến nay, học sinh của chúng ta đã quá quen với các cuốn sách giáo khoa Tiếng Việt, từ lớp 1 đến lớp 11. Trải qua biết bao thăng trầm của những lần thay sách, ít người để ý đến việc những cuốn sách đầu tiên viết về ngữ pháp được dùng thống nhất trong các trường phổ thông ở nước ta ra đời khi nào và có lịch sử ra sao. Có thể khẳng định rằng bộ sách ấy chính thức xuất hiện vào năm 1956, với tên gọi Ngữ pháp Việt Nam, dành cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 7, mà tác giả của nó là giáo sư Nguyễn Lân.

Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, chúng ta đã tiến hành dạy ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh trong các trường phổ thông, song đó là thứ ngữ pháp còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán và tiếng Pháp. Vẫn theo hướng thiên hơn về ngữ pháp truyền thống, nhưng bộ sách Ngữ pháp Việt Nam của Nguyễn Lân đã mở ra một giai đoạn mới cho việc dạy và học ngữ pháp trong nhà trường bằng một loạt các đóng góp, chẳng hạn: (1) Đưa những thuật ngữ mới thay thế cho những thuật ngữ được cấu tạo theo tiếng Hán và tiếng Pháp (như: chỉ định đại danh từ, hình dung từ) Đó là các thuật ngữ: chủ ngữ, vị ngữ, tính từ, đại từ… (2) Gạt bỏ lối phân tích câu kiểu Pháp: chủ từ - động/tính từ – túc từ, đến với lối phân tích câu kiểu Việt: chủ ngữ - vị ngữ. (3) Dùng cách vẽ sơ đồ để thuyết minh cấu tạo câu… Những đổi mới này đã giúp cho việc truyền đạt và tiếp thu ngữ pháp trở nên dễ dàng hơn. Cho đến nay, các sách tiếng Việt dùng cho trường phổ thông đã có nhiều thay đổi, nhưng về cơ bản, tên gọi của các thành phần câu, các từ loại hay lối phân tích câu theo cấu trúc chủ – vị vẫn rất gần gũi và vẫn có những giá trị nhất định của nó.

Tuy nhiên, do hạn chế chung của lịch sử, bộ sách Ngữ pháp Việt Nam vẫn còn những khiếm khuyết. Tác giả, dù rất cố gắng, vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của ngữ pháp tiếng Pháp, đặc biệt là việc lấy ngữ pháp tiếng Pháp làm chuẩn trong phân tích cú pháp tiếng Việt. Chẳng hạn, dịch một câu từ Việt sang Pháp, trong phương pháp dịch thuật hiện nay, chúng ta đều biết rằng, phải dịch ý cả câu chứ không ghép nghĩa của từng từ, nhưng Nguyễn Lân lại đối chiếu nghĩa của từng từ một. Hạn chế nữa của tác giả là nhầm lẫn tính từtrạng từ. Tính từ khi kết hợp với danh từ thì vẫn được coi là tính từ, nhưng khi kết hợp với động từ thì lại được coi là trạng từ. Thực chất việc phụ thuộc vào danh từ hay động từ chỉ làm thay đổi tư cách thành phần câu (làm định ngữ hay bổ ngữ) còn bản chất từ loại của tính từ thì không thay đổi…

Tâm huyết Nguyễn Lân không chỉ dành cho ngữ pháp. Một hệ thống từ điển không nhỏ là con đẻ của ông từ những năm 80. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định khi xây dựng từ điển, song ông vẫn là một trong những nhà từ điển học có uy tín ở Việt Nam, bên cạnh tư cách một người thày về ngữ pháp.

Nguyễn Tài Cẩn và những thành tựu rực rỡ trong nghiên cứu đoản ngữ danh từ (1960, 1975)

Nguyễn Tài Cẩn là một nhà khoa học xuất sắc ở Việt Nam, là một trong số không nhiều những nhà khoa học được giới nghiên cứu nước ngoài biết đến. Ông là một bậc tài hoa, sâu sắc và thông thái. Nếu như Nguyễn Tài Cẩn nổi tiếng trên lĩnh vực ngữ âm học với Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (1995) thì cũng nổi tiếng trên lĩnh vực ngữ pháp học với Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại (1960), Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng, từ ghép, đoản ngữ (1975). Đặc biệt, bằng lý luận ngôn ngữ học hiện đại, từ những năm 60, tác giả đã thành công trong việc mô tả danh ngữ tiếng Việt. Trong đó tác giả đã giải quyết khá thoả đáng các vấn đề: xác lập các nét khu biệt của từ loại danh từ, xác lập hệ thống các phạm trù từ vựng - ngữ pháp nhỏ trong nội bộ danh từ, tìm hệ thống đối lập giữa các hư từ dùng để tạo dạng thức phân tích tính và diễn đạt các phạm trù ngữ pháp cho danh từ.

Việc phân biệt từ loại danh từ với các từ loại khác trước đây đã từng được bàn đến trong những nghiên cứu của Lê Văn Lý, của Martini. Việc xác lập các phạm trù từ vựng - ngữ pháp nhỏ trong nội bộ danh từ và mô hình đoản ngữ danh từ cũng đã được M.B Emeneau đề cập đến. Song, giải quyết của các tác giả ấy vẫn còn cần những điều chỉnh, bổ sung. Nguyễn Tài Cẩn đã hoàn tất công việc đó. Tác giả đã xây dựng một mô hình danh ngữ ở dạng lý tưởng gồm có 7 vị trí, trong đó xác định rõ ở mỗi vị trí có những từ loại nào. Từ mô hình lý tưởng, tác giả đi đến các dạng có thực của danh ngữ… Những thành công của tác giả không chỉ có tác dụng cụ thể đối với lĩnh vực từ pháp và cú pháp học mà việc động chạm tới vấn đề phạm trù ngữ pháp và phương tiện ngữ pháp còn làm sáng rõ đặc trưng của loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính của tiếng Việt.

Trong phần phụ lục cuối sách, Nguyễn Tài Cẩn nói lên một băn khoăn: Ông rất muốn coi, trong đoản ngữ danh từ, loại từ là trung tâm, còn danh từ ở sau chỉ là thành tố phụ. Quả thực ông cũng có lý khi băn khoăn như vậy, nhưng cũng thật khó có thể giải quyết theo hướng này. (Năm 2001, Nguyễn Phú Phong, một đại diện tiêu biểu cho nhóm tác giả ở Pháp, cũng quay trở lại nghiên cứu vấn đề loại từ). Dù sao, Nguyễn Tài Cẩn vẫn có công lớn trong việc mô tả danh ngữ và đặt đúng cương vị của tiếng. Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng những tư tưởng của Nguyễn Tài Cẩn vẫn còn giữ nguyên tính thời sự của nó.

Hoàng Tuệ và “Giáo trình về Việt ngữ” (1962)

Hoàng Tuệ là một con người có tài năng thiên bẩm về ngôn ngữ học và có một năng khiếu đặc biệt về văn chương. Ông là một trong những người có vai trò quyết định đối với sự ra đời, trưởng thành và phát triển của ngành ngôn ngữ học tiếng Việt. Ông viết nhiều và cũng thành công trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực tu từ học, xã hội – ngôn ngữ học và ngữ pháp học. Hai tác phẩm lớn về ngữ pháp có sự đóng góp cơ bản của ông là Giáo trình về Việt ngữ (1962) và Ngữ pháp tiếng Việt (1983).

Nếu lấy thời điểm những năm 60 mà xét thì những đóng góp của Hoàng Tuệ cho ngôn ngữ học to lớn biết nhường nào. Trước hết, đó là những đóng góp về lý luận ngôn ngữ học đại cương, mà ông đã vận dụng hết sức linh hoạt vào nghiên cứu tiếng Việt. Ông rất tỉnh táo nhận ra những chỗ còn thiếu sót trong Ferdinand de Saussure (trường phái cấu trúc luận) hay Chomsky (tạo sinh luận). Sau nữa là những vấn đề nền móng cho một ngữ pháp Việt Nam ngày hôm nay qua Giáo trình về Việt ngữ. Ông quan niệm rằng: Khi nghiên cứu về Việt ngữ, … thường có trong truyền thống sự so sánh giữa Việt ngữ và Pháp ngữ, nhưng cần phải nhận thấy sự khác nhau giữa tính chất căn bản của hai ngôn ngữ này. Pháp ngữ mặc dầu đã mất nhiều bộ khuất chiết và không còn giữ tính chất của các ngữ ngôn như Latinh ngữ hay Nga ngữ, nhưng không phải vì thế mà lấy ngữ pháp Pháp ngữ làm cái mẫu cho Việt ngữ (30, tr397). Trên cơ sở đó, ông bàn tới các vấn đề như: ngữ pháp là gì, tình hình nghiên cứu ngữ pháp trước đây ở nước ta, ý nghĩa ngữ pháp, hình thức ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp, quan hệ cú pháp, các kiểu câu, vấn đề từ tổ, từ loại, tình thái, thành phần câu… Những nghiên cứu của Hoàng Tuệ khá chi tiết và bám sát vào ngữ liệu tiếng Việt. Đặc biệt, khi trình bày các vấn đề cụ thể của ngữ pháp tiếng Việt, ông rất hay so sánh với tiếng Pháp, để người đọc hình dung được sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ này, và cũng để khẳng định những đặc trưng riêng biệt của tiếng Việt. Ông cũng đã phát hiện ra một loại thành phần mới của câu, thành phần minh xác ngữ, do sự phân biệt các loại bổ ngữ khác nhau trong tiếng Việt mà ra (không giống với minh xác ngữ của Lưu Vân Lăng hay Cao Xuân Hạo). Ví dụ: Giấy này rất ăn mực, mực là minh xác ngữ. Có lẽ hậu thế cũng chưa để công khai thác triệt để vấn đề khá lý thú mà ông đã gợi mở này. Ông cũng đã từng nhắc tới một ngành khoa học hết sức mới mẻ, ra đời ở Việt Nam cuối những năm 80, là hiệu dụng học (pragmatique - ngữ dụng học bây giờ). Ông cũng có những kiến giải sâu về từ loại.

Lại lấy thời điểm những năm đầu thế kỷ XXI ra mà xét, ta cũng thấy đôi chỗ chưa hoàn hảo của Giáo trình về Việt ngữ. Chẳng hạn chỗ nhập nhằng giữa câu đơn giản và câu phức hợp, việc dùng rất làm từ chứng để phân biệt động từ và tính từ… Song, nói theo Cao Xuân Hạo, có thể khẳng định rằng ông là một trong những người xứng đáng được toàn thể đội ngũ giảng viên, giáo viên, nghiên cứu viên, sinh viên và học sinh có liên quan đến ngôn ngữ học và tiếng Việt kính cẩn gọi bằng thầy (30, tr1149). Và nhắc tới tiến trình ngữ pháp học tiếng Việt, chúng ta không thể bỏ qua không nhắc đến tên ông.

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê với “Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam”(1963)

Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam của hai tác giả đàng trong Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê là một cuốn sách có độ dày đáng nể trọng: hơn 700 trang. Sách được viết trong giai đoạn cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận đang có ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ đến những nghiên cứu của giới Việt ngữ học. Xuất phát điểm của hai tác giả là cố gắng đi tìm những đặc trưng riêng biệt của tiếng Việt, thay thế cho việc mô phỏng các ngôn ngữ châu Âu, bởi dù lý trí của con người chỉ có một, nhưng mỗi dân tộc đều có một lối riêng để cấu tạo tư tưởng, diễn tả tư tưởng; nên không thể lấy một tộc ngữ nào làm mô phạm để phân tích tộc ngữ khác (80, tr19). Tiếng ta phải có ngữ pháp, và ngữ pháp của ta có những đặc điểm không có trong ngữ pháp Tây phương, cũng như ngữ pháp Tây phương có nhiều điều không đem áp dụng vào ngôn ngữ của ta được (80, tr30). Đây là một quan điểm đúng đắn.

Nếu như Lê Văn Lý không quan tâm đến nghĩa thì Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê lại chủ trương ngược lại. Hai ông cho rằng muốn nghiên cứu ngôn ngữ theo phương pháp khoa học thì không thể bỏ phần ý nghĩa. Trong khảo luận của mình, hai tác giả cố gắng coi trọng cả ba mặt: âm thanh, ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ. Hai ông đi sâu nghiên cứu cái gọi là từ tínhtừ vụ, trên quan điểm: Mỗi từ có hai tác dụng: tác dụng về phương diện ý nghĩa và tác dụng về phương diện cấu tạo câu (cú pháp) (80, tr149). Đây là một ưu điểm lớn. Những trang viết về loại từ lượng từ cũng rất tỷ mỷ. Song, hai tác giả chủ trương lướt qua phần từ loại, xuất phát từ quan điểm cho rằng Việt ngữ không có ngành từ pháp như của Tây phương (80, tr208). Theo các ông, cú pháp là phần quan trọng hơn cả trong ngữ pháp tiếng Việt (80, tr209). Và quả thực, các vấn đề về câu được các ông khảo sát trên phạm vi rộng nhưng vẫn khá sâu sắc. Hai ông cũng là những người đầu tiên dùng thuật ngữ , là những người đầu tiên phát hiện ra một loại thành phần câu rất riêng của tiếng Việt – thành phần chủ đề – mà sau này Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp gọi là khởi ngữ. Đây là những đóng góp đáng ghi nhận của hai ông trên hành trình đi tìm những đặc trưng riêng cho tiếng Việt.

Khảo luận ngữ pháp Việt Nam được viết với một văn phong giản dị và khoa học. Cách trình bày, lý giải, dẫn dắt vấn đề của tác giả khá độc đáo. Người viết có một vốn hiểu biết sâu rộng về ngoại ngữ và ngôn ngữ. Song mặc dù tuyên bố phương pháp nghiên cứu của mình là chú ý cả hình thức lẫn nội dung, trên thực tế, đôi chỗ, khi xác định ranh giới của từ, từ loại hay phân tích câu…, tác giả vẫn chỉ căn cứ vào ý nghĩa. Tuy nhiên, trên tất cả những điều ấy, đây là một cuốn sách quý, góp phần làm nên diện mạo của một ngữ pháp Việt Nam ngày hôm nay.

Ju. K. Lekomcev và phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (1964)

Năm 1964, Ju. K. Lekomcev mang một phương pháp nghiên cứu mới vào miêu tả cấu trúc câu đơn tiếng Việt. Đó là phương pháp của trường phái ngôn ngữ học kết cấu miêu tả Mỹ do L. Bloomfield sáng lập trong chính giai đoạn này.

Ju.K. Lekomcev ứng dụng mô hình phân tích các thành tố trực tiếp (IC) vào nghiên cứu câu tiếng Việt. Cách phân tích này dựa trên quan niệm cho rằng câu được tạo nên bằng cách gộp dần những kiến trúc hai thành tố lại và do đó cũng đễ dàng phân giải thành từng đôi một. Các thao tác chủ yếu là lưỡng phân và lược. Bằng cách miêu tả chi tiết trình tự các thao tác phân tích, Ju.K. Lekomcev đã vẽ nên một sơ đồ đầy đủ về cấu trúc câu đơn tiếng Việt, với cấu tạo của từng thành tố theo tầng bậc, ký hiệu là En. Cuối cùng, ta được một cấu trúc câu đơn gồm có các từ tình thái, các trạng ngữ chỉ thời gian, trạng ngữ chỉ địa điểm, chủ ngữ, vị ngữ… Đây là một hướng nghiên cứu mới, góp phần bổ sung cho cách phân tích câu theo mệnh đề của truyền thống, tuy nhiên, sau này nó cũng không trở thành phương pháp nghiên cứu cú pháp phổ biến ở Việt Nam.

Là một người theo trường phái miêu tả, dĩ nhiên, Ju.K. Lekomcev cũng trung thành với việc chia ngôn ngữ thành ba cấp độ là âm vị học, hình thái họccú pháp. Với tiếng Việt, ông đồng nhất khái niệm từ với cụm từ, từ tiếng Việt cũng được nhìn nhận như mô hình hình vị của châu Âu (từ là kết hợp của hình vị thực với các hình vị hư), ông gọi nó là từ phân tích tính. Việc loại bỏ cấp độ từ ra khỏi hệ thống các cấp độ ngôn ngữ của tiếng Việt là một hạn chế của Ju.K. Lekomcev. Việc xác định các thành phần câu chỉ bằng tiêu chí hình thức cũng là một khiếm khuyết. Phương pháp phân tích câu theo thành tố trưc tiếp đã dẫn đến kết quả là ngữ động từ làm trung tâm của câu. Và do vậy, câu chỉ có một thành phần chính là thành phần vị ngữ. Đây cũng là vấn đề rất cần phải bàn thêm… Tuy nhiên, đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu là điều chúng ta rất trân trọng và cần ghi nhận ở tác giả không phải là người bản ngữ này.

Nguyễn Kim Thản và lý thuyết từ tổ (1964)

Trên thế giới, việc nghiên cứu từ tổ chính thức được thành hình vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX, với tên tuổi của F.F. Fortunatov (thuộc trường phái Moskva). Còn ở Việt Nam, người đầu tiên áp dụng lý thuyết từ tổ vào nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, vào những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, là Nguyễn Kim Thản. Từ tổ là đơn vị trung gian giữa từ và câu, nó vừa giống với từ, nhưng không phải là từ, vừa giống với câu, nhưng lại không phải là câu. Với quan điểm khá độc đáo: Câu không phải do từ trực tiếp tạo nên mà mà do từ tổ tạo nên, lý thuyết từ tổ đã tạo ra một cơn lốc trong nghiên cứu cú pháp ở Việt Nam (như: đặt lại vấn đề câu đơn và câu ghép, vấn đề phân biệt thành phần câu với thành phần của từ tổ, xác định các kiểu câu căn cứ vào đặc điểm của từ tổ…) Nguyễn Kim Thản cho rằng việc phân tích chức năng của từng từ có tác dụng là xác định được quan hệ ngữ pháp của các từ với nhau nhưng lại có nhược điểm là làm cho ý nghĩa của câu có thể bị khác đi, hoặc có thể trở nên vô nghĩa. Trong tiếng Việt, có những trường hợp nếu quá chú ý tới việc chia cắt câu thành các từ thì ý nghĩa của câu sẽ bị vụn nát. Trong khi đó, nếu lấy từ tổ làm gốc trong phân tích cấu trúc câu thì sẽ khắc phục được tình trạng này. Tác giả đề nghị nên coi từ tổ có thể đảm nhiệm chức năng ngữ pháp như từ trong mọi trường hợp (có thể là chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ…). Rồi khi tiếp tục phân tích quan hệ của từng từ, ta sẽ tìm ra những từ chính, từ phụ hay bình đẳng như nhau (54, tr417). Tác giả đã tiến hành phân loại từ tổ nói chung, xác định thành phần từ tổ, nêu công dụng cú pháp của từ tổ và đi sâu nghiên cứu các từ tổ trong tiếng Việt.

Ưu điểm của việc dựa vào từ tổ để giải thích cấu trúc câu đã góp phần giải đáp câu hỏi thành phần câu là gì? song nó vẫn không giải đáp được vấn đề danh sách và tiêu chí xác định các thành phần câu. Việc coi các bổ ngữ bắt buộc của động/ tính từ vị ngữ là thành phần phụ của từ tổ cũng cần phải xem xét lại. Việc coi cụm từ là trung tâm của ngữ pháp tiếng Việt, bao gồm tất cả các loại quan hệ cú pháp (cả quan hệ chính phụ và quan hệ chủ - vị) cũng có những mâu thuẫn, đặc biệt là nó không đúng với những trường hợp câu chỉ có một từ. Việc phân chia câu đơn và câu ghép theo số lượng cụm từ cũng chưa thuyết phục.

Ngoài lý thuyết từ tổ, Nguyễn Kim Thản còn có những nghiên cứu hết sức tỷ mỷ về động từ trong tiếng Việt (1963) trên quan điểm của ngữ pháp hình thức nói chung hay trường phái miêu tả nói riêng. Mặc dù có những vấn đề cần được bàn thêm, nhất là về tiêu chí phân loại động từ, song Động từ trong tiếng Việt đã thoả mãn phần nào mong ước của tác giả: Từ “khoảng trời” động từ tiếng Việt, có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng của cả “bầu trời” tiếng Việt (53, tr256).

Thompson L.C và phương pháp cấu trúc theo lối miêu tả (1965)

Rất gần gũi với Lekomcev Ju. K., Thompson L.C cũng trung thành với quan điểm phân tích câu theo thành tố trực tiếp của trường phái miêu tả Mỹ.

Bằng cách phân tích mà Thompson L.C cho rằng rất dễ thực hiện đối với người bản ngữ, câu được chia làm hai phần, một phần gồm các bổ ngữ tiêu điểm (tiêu ngữ) và phần kia, phần chính, là vị ngữ. Các bổ ngữ tiêu điểm của ông gồm bốn loại cơ bản: phương thức, thời gian, nơi chốn, chủ đề. Tiêu chí xác định tiêu ngữ là đứng trước vị ngữ. Tác giả cũng chủ trương không phân biệt thứ hạng của chủ ngữ và bổ ngữ, cho rằng việc đó là không cần thiết. Điểm quan trọng đối với ông là vai trò của tiểu từ thì trong việc đánh dấu tiêu ngữ và vị ngữ. Phải chăng đây là một gợi ý quý báu cho ngữ pháp chức năng trong việc kiếm tìm những tác tử đánh dấu sự phân biệt phần đề và phần thuyết trong câu tiếng Việt sau này?

Tuy nhiên, việc đánh đồng những thành phần câu không cùng chức năng ngữ nghĩa và ngữ pháp như chủ ngữ, trạng ngữ, thành phần chuyển tiếp… (cách dùng của ngữ pháp truyền thống) vào cùng một loại là tiêu ngữ chỉ nhờ vào một tiêu chí là đứng trước vị ngữ cũng cần phải bàn thêm. Việc xem thành phần chính của câu chỉ duy nhất một thành tố là vị ngữ cũng không phù hợp với câu tiếng Việt. Song, ngoại trừ những điều ấy, những nhận xét tinh tế về tiếng Việt và những thao tác làm việc mới mẻ mà tác giả mang đến là một đóng góp không nhỏ cho ngữ pháp Việt Nam.

Lê Xuân Thại và những vấn đề về phân tích câu theo cụm từ (1969)

Cùng với Nguyễn Kim Thản, Lê Xuân Thại tiếp tục ủng hộ cho quan điểm của lý thuyết từ tổ bằng bài báo Cụm từ và phân tích câu theo cụm từ (1969).

Tinh thần cơ bản của Lê Xuân Thại trong bài báo trên là lấy cụm từ làm trung tâm trong nghiên cứu cú pháp (đây là quan điểm chịu ảnh hưởng của lý thuyết từ tổ của Nga thế kỷ XIX). Việc phân loại câu cũng được tiến hành trên cơ sở số lượng cụm từ và mối quan hệ giữa các cụm từ. Theo tác giả, câu phải có ít nhất là một hoặc phải có nhiều từ kết hợp với nhau theo một quan hệ nhất định. Đây là mặt cấu trúc chiều ngang của câu… Nghiên cứu cụm từ tức là nghiên cứu về mặt cấu trúc chiều ngang của câu.

Những nghiên cứu sâu về cụm từ quả thực có đóng góp nhất định trên địa hạt ngữ pháp, nhất là việc khẳng định vị trí của một hình thức trung gian giữa từ và câu, một đơn vị khá quan trọng mà chưa được quan tâm đầy đủ trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ. Đứng trong bối cảnh của những năm 70 của thế kỷ trước mà xét, đây là một trong những ý tưởng mới mẻ và táo bạo. Song khó có thể nói rằng nó là một giải pháp triệt để trong việc phân loại câu và phản ánh cấu trúc cốt lõi của câu, đặc biệt đối với loại câu chỉ có một từ. Việc phân chia câu đơn/câu ghép hay câu bình thường/câu đặc biệt cũng chưa thực sự thuyết phục, nếu chỉ dựa trên tiêu chí cụm từ.

Lê Xuân Thại là một trong số những nhà ngữ pháp học khá tâm huyết với nghề. Ông viết sớm và khoẻ. Ông cũng đã từng góp sức cho sự ra đời của cuốn Ngữ pháp tiếng Việt 1983, từng trăn trở với trào lưu ngữ pháp chức năng hiện đại. Ông cũng đã có những cống hiến nhất định cho sự hình thành của ngữ pháp Việt Nam ngày hôm nay.

Lưu Vân Lăng và quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân (1970)

Những năm đầu của thập kỷ 70, giới ngôn ngữ học xôn xao về một bài báo khá dài được công bố trên Tạp chí Ngôn ngữ. Bài báo ấy là tiếng nói của một hướng nghiên cứu ngữ pháp mới, có một cái tên khá trúc trắc và ít nhiều trừu tượng: Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân; tác giả của nó là GS Lưu Vân Lăng.

Tên gọi thì có vẻ phức tạp, song tựu trung lại, tinh thần của quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân là: Trong các đơn vị khác nhau của ngữ pháp tiếng Việt (tiếng, từ, ngữ, cú, câu), ngoại trừ tiếng - đơn vị cơ bản thấp nhất trong cú pháp, các đơn vị còn lại đều có thể chia thành các tầng lớp và cấp bậc có hạt nhân. Hạt nhân được hiểu là các yếu tố chính, là cái lõi trong các đơn vị ấy. Muốn hiểu một câu, cần phân tích cấu trúc câu thành các đơn vị như trên.

Theo Lưu Vân Lăng, những năm 70, trên thế giới có khá nhiều khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp: ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp hình thức, ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp tạo sinh…, song một tiếng nói chung về thành phần cấu tạo của các đơn vị ngữ pháp, quan hệ giữa các thành tố, biên giới, đặc trưng của chúng là chưa có. Quán triệt quan điểm tầng bậc có hạt nhân, ông đi sâu miêu tả từng đơn vị, trình bày quan điểm phân loại câu của mình, là dựa vào số lượng cú, chia câu thành hai loại: câu đơn và câu kép, trong đó câu đơn gồm một cú (có thể là đơn hay kép), còn câu kép thì gồm hai cú tách bạch. Lưu Vân Lăng cũng chủ trương dùng thuật ngữ đề ngữ - thuyết ngữ. Tuy nhiên, cặp thuật ngữ này, so với cặp thuật ngữ chủ – vị, chỉ khác nhau về tên gọi, mà không khác nhau về nội dung quan niệm.

Ưu điểm của quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân là tính hệ thống khá cao. Nó thể hiện một cố gắng của tác giả là tìm cách gạt bỏ mọi hiện tượng trung gian, quy tất cả về những khuôn mẫu cố định. Đó là một hệ thống xuyên suốt các đơn vị ngữ pháp, trong đó các đơn vị đều có các yếu tố hạt nhân và yếu tố phụ trợ. Nó cũng phản ánh quan hệ tôn ti của các đơn vị ngôn ngữ. Âm hưởng của quan điểm này còn dội vào Ngữ pháp tiếng Việt 1983, đặc biệt ở tên gọi đề ngữ - thuyết ngữ và vấn đề tính thuyết ngữ của câu.

Những nghiên cứu tiếp theo của Lưu Vân Lăng trong lĩnh vực ngữ pháp là một sự kiên trì theo đuổi khuynh hướng này. Ngoài ra, ông cũng có những đóng góp trên phương diện từ vựng học và từ điển học, phương diện thuật ngữ và chuẩn hoá tiếng Việt. Tất cả làm nên một Lưu Vân Lăng riêng biệt, đầy cá tính và trí tuệ. Ông là một trong những giáo sư đầu ngành, có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của ngành Ngữ pháp học nước ta.

V. X Panfilov và xu hướng hình thức hoá trong nghiên cứu cú pháp tiếng Việt (1980)

V. X Panfilov là nhà Việt ngữ học người Nga có rất nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước, với các bài báo bằng tiếng Nga, V. X Panfilov đã tỏ ra rất quan tâm tới cái ngôn ngữ vốn khác xa về loại hình với tiếng mẹ đẻ của mình. Năm 1993, ông còn viết cả một cuốn sách dày về cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt. Gần đây, ông lại hăng hái tham gia vào cuộc tranh luận với Cao Xuân Hạo về vấn đề thời, thể. Quan điểm của ông khá sâu sắc và rất đáng để cho những nhà nghiên cứu tiếng Việt lưu tâm.

Xu hướng hình thức hoá mà V. X Panfilov theo đuổi có lẽ bắt nguồn từ S.E. Jakhontov. Các thủ pháp phân xuất, các thao tác được áp dụng một cách triệt để để nhận diện các thành phần câu và cấu trúc nòng cốt của câu. Quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ ngữ pháp được phân biệt một cách hết sức rạch ròi… Sau này, Nguyễn Minh Thuyết cũng áp dụng xu hướng hình thức hoá để nghiên cứu các thành phần câu tiếng Việt, đặc biệt là những nghiên cứu về thành phần chủ ngữ.

Trong Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt, V. X Panfilov đã trình bày trên diện rộng các vấn đề: hình vị, từ, những khái niệm xuất phát về cú pháp (các dạng quan hệ, cụm từ, câu, phát ngôn, phương tiện ngữ đoạn, phương tiện cải biến…), vấn đề từ loại, vấn đề các kiểu câu, vấn đề cú pháp giao tiếp… Việc phân loại câu tiếng Việt thành ba loại: câu đơn, câu có thành phần lồng ghép và câu phức là rất gần gũi với cách phân loại hiện nay của chúng ta: câu đơn, câu phức và câu ghép. Các bước diễn giải từ câu đơn đến câu phức khá hấp dẫn và thuyết phục. Cách trình bày của ông có phần khó hiểu song những nghiên cứu của một người nước ngoài như ông về Việt ngữ là rất đáng được ghi nhận.

Hoàng Trọng Phiến và những vấn đề về câu tiếng Việt (1980)

Cho đến thập kỷ 80, việc nghiên cứu ngữ pháp của chúng ta nói chung đã phát triển thành một hệ thống, một bộ môn độc lập với những kết quả nhất định. Nhưng trong lĩnh vực cú pháp, vấn đề phân loại câu vẫn chưa tìm được tiếng nói chung. Phải đến Hoàng Trọng Phiến, vấn đề này mới được giải quyết một cách thoả đáng. Đặc biệt, tiêu chí phân loại câu của tác giả là hợp lý và triệt để hơn rất nhiều những cách phân loại trước đây. Đó là một sự kết hợp toàn diện các mặt hình thức, cấu trúc và ý nghĩa của ngôn ngữ. Tác giả đã rất có ý thức chú ý tới sự sử dụng tiếng Việt, hay nói cách khác là chú ý tới câu trong cách dùng của nó, một trong những vấn đề đã trở thành cốt lõi cho ngữ dụng học ngày nay.

Theo Hoàng Trọng Phiến, có hai tiêu chí phân định câu tiếng Việt: (1) theo cấu trúc ngữ nghĩa, và (2) theo mục đích phát ngôn. Cách phân chia thứ nhất chủ yếu dựa vào cơ chế của câu, vạch rõ các yếu tố và các quan hệ tạo nên cơ chế đó, nhưng lại chưa giải thích được các ý nghĩa và các sắc thái ý nghĩa của câu. Cách phân chia thứ hai giúp người học nhận diện được ý nghĩa của câu, nó thực chất là chia câu theo ngữ pháp – thông báo, có liên quan đến lý thuyết phân đoạn thực tại của V. Mathesius, song là sự hoàn thiện lý thuyết ấy đối với trường hợp câu tiếng Việt. Theo tiêu chí thứ nhất, ta có câu đơn và câu ghép. Theo tiêu chí thứ hai, ta có câu kể, câu hỏi và câu cầu khiến. Phần trình bày về từng loại câu cụ thể của tác giả khá chi tiết và thuyết phục, trong đó các loại câu phân chia theo mục đích phát ngôn bao giờ cũng có những dấu hiệu hình thức để nhận diện.

Địa hạt cú pháp trong đó trung tâm là vấn đề các kiểu câu là địa hạt phức tạp nhất trong ngữ pháp học bởi ở đó có sự giao nhau của nhiều hiện tượng ngôn ngữ. Song, các kiểu câu mà Hoàng Trọng Phiến đưa ra đã giúp người học tiếp cận với ngữ pháp tiếng Việt dễ dàng, thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây. Nó phản ánh đầy đủ và trung thực nhất những hiện tượng xung quanh cách phân chia các loại câu tiếng Việt tính tới thời điểm bấy giờ. Tuy nhiên, tác giả còn khá lúng túng trong việc giải quyết loại câu trung gian của tiếng Việt. Ông đã có một đề mục rất dài: Câu trung gian là kết quả khai triển cấu trúc câu đơn nhưng không còn ở bbậc câu đơn, mà cũng chưa đến bậc câu ghép; không phải kết quả khai triển nào cũng là trung gian (29, tr189). Vấn đề sự đan xen, phức tạp giữa các loại câu chia theo mục đích phát ngôn (chẳng hạn: câu kể dùng để hỏi hoặc yêu cầu) cũng còn bỏ ngỏ. Sau Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban và Bùi Minh Toán đã hoàn thiện những vấn đề này và đưa dần vào chương trình sách giáo khoa các cấp.

Với một nguyên tắc làm việc tỉnh táo: Nghiên cứu cú pháp chỉ dựa vào hình thức hay chức năng đều là không đầy đủ. Bởi vì câu là sự kết hợp của một hình thức và một nội dung thông tin. Song không bao giờ có sự tương ứng một – một, trọn vẹn giữa hai mặt đó (29, tr293), Hoàng Trọng Phiến đã làm dày thêm thành tựu của ngữ pháp học Việt Nam thế kỷ XX.

Diệp Quang Ban và câu tồn tại tiếng Việt (1980)

Nói tới đóng góp của Diệp Quang Ban cho Ngữ pháp tiếng Việt có lẽ trước hết phải nói tới số lượng các chuyên khảo, các sách đại học, các bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành. Diệp Quang Ban cũng là một trong những tác giả tham gia biên soạn sách giáo khoa, phần viết về ngữ pháp. Hướng đi của ông là nghiên cứu mặt cấu trúc – nghĩa của cú pháp học, một khuynh hướng nổi bật trong trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ học những năm 70 – 80. Ông có những kiến giải rất sâu sắc về câu tiếng Việt, trong đó đặc biệt là câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp. Ông cũng có những đóng góp riêng cho loại câu đơn tiếng Việt. Cùng với Trần Ngọc Thêm, ông còn rất quan tâm tới lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp văn bản ở Việt Nam.

Song đóng góp đáng kể của Diệp Quang Ban là những kiến giải về loại câu tồn tại tiếng Việt. Mặc dù vấn đề câu tồn tại đã được đặt ra trong những nghiên cứu của M.B Emeneau (1951), của L.C Thompson (1967) và nhiều tác giả khác, nhưng chỉ đến Diệp Quang Ban, vấn đề này mới được giải quyết thoả đáng. Ông thấy được vai trò hết sức quan trọng của thành phần trạng ngữ trong kiểu câu này, thành phần luôn được xem là phụ, đứng ngoài nòng cốt câu. Ông coi đó là một loại trạng ngữ đặc biệt, không thể thiếu trong cấu trúc câu tồn tại. Những kiến giải hợp lý của Diệp Quang Ban (và sau này là của Trần Ngọc Thêm) đã góp phần giải quyết một loại câu sai ngữ pháp rất phổ biến trong tiếng Việt – loại câu nhầm thành phần trạng ngữ là chủ ngữ.

Diệp Quang Ban cũng là người đấu tranh không mệt mỏi cho việc bảo vệ quan điểm phân tích câu theo cấu trúc chủ – vị trong nghiên cứu cú pháp tiếng Việt. Có thể coi ông là một đại diện tiêu biểu cho quan điểm này.

Đôi khi, trong các trang viết của Diệp Quang Ban, người ta nhận thấy những giằng co, phức tạp, mâu thuẫn, âu cũng là dễ hiểu khi ông chọn đối tượng nghiên cứu chính của mình là cú pháp tiếng Việt. Dù sao, ông cũng vẫn là một trong những người thầy có uy tín và đáng tin cậy của rất nhiều thế hệ sinh viên trẻ hiện nay.

Lý Toàn Thắng và Lý thuyết phân đoạn thực tại (1981)

Lý thuyết phân đoạn thực tại (hay sự phân đoạn thực tại của câu - Actual divition of the sentence; phối cảnh chức năng câu - Fuction sentence perspective) ra đời những năm 30 của thế kỷ trước, do trường phái Ngôn ngữ học chức năng Praha khởi xướng. Lý thuyết này đã từng ghi dấu trong các công trình nghiên cứu của Lưu Vân Lăng (1970), của Nguyễn Tài Cẩn, N. Xtankevich, Bustrov (1975), Panfilov (1980) và sau này là Trần Ngọc Thêm (1985). Song người có công giới thiệu lý thuyết này một cách tương đối trọn vẹn ở Việt Nam là Lý Toàn Thắng (1981).

Lý thuyết phân đoạn thực tại nghiên cứu câu trên phương diện thông tin thực tại, tức là thông tin mà người nói coi là quan trọng, cần phải chú ý trong tình huống giao tiếp đó. Câu, theo lý thuyết này, được chia làm hai phần: chủ đề (theme, topic) và thuật đề (rheme, comment). Phương pháp xác định chủ đề và thuật đề là sử dụng những câu hỏi chung và câu hỏi riêng. Bộ phận câu nào được bao hàm trong câu hỏi và được trả lời trong câu đáp thì đó là thuật đề, bộ phận còn lại là chủ đề. Phương tiện ngôn ngữ để biểu thị sự phân đoạn thực tại của câu được thể hiện chủ yếu nhờ trật tự từ và ngữ điệu…

Giới thiệu một trong những thành tựu của ngôn ngữ học quốc tế - Lý thuyết phân đoạn thực tại - ở Việt Nam, Lý Toàn Thắng đã góp phần đẩy việc nghiên cứu lý luận ngôn ngữ học nước nhà tiến thêm một bước mới.

Lý Toàn Thắng còn là người có đóng góp đáng kể trong những nghiên cứu trên bình diện ngôn ngữ học tâm lý và ngôn ngữ học tri nhận luận (congitive linguistics), một địa hạt còn rất mới mẻ ở Việt Nam.

Uỷ ban Khoa học Xã hội và những quan điểm đan chéo trong ngữ pháp học của thập kỷ 80 (1983)

Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của UBKHXH (1983) có thể coi là một cuốn cẩm nang về ngữ pháp cho giáo viên, học sinh, sinh viên trong cả nước. Sách viết khá cơ bản, giản dị, dễ tiếp thu và có tính phổ cập rộng rãi đối với người Việt. Ra đời cách đây gần 20 năm nhưng những kiến thức trong sách không cũ, không lạc hậu. Cuốn sách này bao quát toàn bộ ngữ pháp tiếng Việt, từ các vấn đề chung về lịch sử tiếng Việt, đặc điểm tiếng Việt, cấu tạo của từ tiếng Việt đến các vấn đề về câu. Có thể khẳng định đây là một cuốn sách tốt, có tác dụng tích cực trong việc nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong thực tiễn nói và viết, góp phần thể hiện cái hay cái đẹp của ngôn ngữ nước nhà.

Song Ngữ pháp tiếng Việt do một tập thể tác giả viết, ra đời sau một khoảng thời gian khá dài (14 năm) đủ cho thấy sự phức tạp trong chính bản thân tiếng Việt cũng như trong tình hình nghiên cứu ngữ pháp ở Việt Nam. Khuynh hướng chính của cuốn sách là cấu trúc luận Đông phương, nhưng trong sách là sự đan xen của nhiều luồng tư tưởng: lý thuyết phân tích câu theo tầng bậc hạt nhân, lý thuyết từ tổ, những kết quả của nghiên cứu đoản ngữ… Vẫn còn những điều cần bàn thêm ở cuốn sách. Chẳng hạn: (1) Sách Ngữ pháp tiếng Việt đã động chạm đến cấu trúc đề thuyết nhưng chưa sâu. Khái niệm đề - thuyết, nguồn gốc của cặp thuật ngữ này, quan hệ giữa đề và thuyết, cách xác định chúng và sự phân biệt với khái niệm chủ - vị chưa được đề cập đến. (2) Phần viết về các thành phần ngoài nòng cốt câu mới chủ yếu nêu khái niệm, vị trí, chưa nêu được vai trò của chúng. (3) Sự sắp xếp các chương mục đôi chỗ còn chưa hợp lý. (Nên đưa vấn đề khẳng định, phủ định vào phần trình bày về câu trần thuật).(4). Sáchcũng chưa phân biệt triệt để 3 loại câu: câu đơn, câu phức, câu ghép (cho câu phức và câu ghép là một). Có những lúc ranh giới giữa câu đơn và câu ghép không rõ ràng. (5) Tên gọi của chương V không ổn vì quá phức tạp và trùng lặp…

Cuốn sách Ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm 1983 là một cuốn sách tốt, đã từng được sử dụng như một cẩm nang về ngữ pháp cho giáo viên các trường phổ thông và giảng viên, sinh viên đại học. Song 20 năm đã trôi qua, cùng với thời gian, ngôn ngữ học thế giới nói chung và ngôn ngữ học Việt Nam nói riêng đã có những thành tựu đáng kể. Viết tiếp một cuốn Ngữ pháp tiếng Việt khác cho thời điểm những năm 2000 âu cũng là việc nên làm. Song, dù sao đi nữa, cuốn sách này vẫn có những giá trị lịch sử đáng ghi nhận.

Trần Ngọc Thêm và sự ra đời của ngữ pháp văn bản (1985)

Những năm đầu thế kỷ XX là những năm mà giới ngôn ngữ học say sưa với những thành tựu mà Ferdinand de Saussure mang lại (qua cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương)và phấn khởi ăn mừng cho sự ra đời của ngành ngôn ngữ học hiện đại (1916). Việc ăn mừng kéo dài cho tới khi người ta bắt đầu nhận thấy những bất ổn trong Giáo trình ấy, trước hết là ở sự đối lập tuyệt đối giữa ngôn ngữ và lời nói. Với câu nói nổi tiếng: Đối tượng chân thực và duy nhất trong ngôn ngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân nó và vì bản thân nó (74, tr393), vô hình trung, Saussure đã gạt câu và những đơn vị trên câu ra khỏi phạm vi ngôn ngữ học. Song, rõ ràng, câu không phải là đơn vị bậc cao nhất trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ. Càng ngày, các lý thuyết ngôn ngữ học được xây dựng trong khuôn khổ của câu càng bộc lộ những hạn chế của mình cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Ngành ngôn ngữ học văn bản ra đời.

Trên thế giới, ngôn ngữ học văn bản hình thành vào khoảng những năm 50 – 60 và phát triển rầm rộ trong những năm 70 của thế kỷ trước. Còn ở Việt Nam, nó chính thức được biết đến qua Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985). Đây là một cuốn sách có giá trị, cả đối với ngữ pháp bậc dưới câu, cả đối với ngữ pháp bậc trên câu. Các nòng cốt câu được Trần Ngọc Thêm xây dựng thành 4 kiểu: nòng cốt đặc trưng, nòng cốt quan hệ, nòng cốt tồn tại và nòng cốt qua lại. Các nòng cốt này được xác định trên quan hệ chủ đề – thuật đề. Nhưng các thành phần của nòng cốt vẫn được gọi tên bằng các thuật ngữ truyền thống: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ… Đó là một cách tiếp cận vừa hiện đại, mới mẻ, vừa gần gũi, giản dị, dù rằng vẫn còn những điều có thể bàn thêm.

Song đóng góp cơ bản nhất của Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt là làm rõ vấn đề tính liên kết của văn bản, trên hai phương diện: liên kết hình thức và liên kết nội dung. Đặc biệt, bảy phương thức liên kết mà tác giả xây dựng là rất công phu và chuẩn mực. Khó lòng mà thay thế tên gọi của một phương thức nào (chẳng hạn phép liên tưởng thay bằng phép tả (Hữu Đạt), hay phép phối ứng từ ngữ (Đình Cao, Lê A) hoặc phép lặp (Bùi Minh Toán), cũng như sửa đổi nội dung của những phương thức ấy, hoặc bổ sung thêm những phương thức mới… Vì tính cần thiết và hữu ích của mình, ngữ pháp văn bản đã được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông trong cả nước từ thập kỷ 90, thế kỷ XX.

Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt đã mở đường cho một loạt các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam, trong đó có Ngữ pháp văn bản của Nguyễn Quang Ninh (1989), Giản yếu về ngữ pháp văn bản của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thị Ngọc Diệu (1996), Tiếng Việt thực hành của Hữu Đạt (1997), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban (1998), Hệ thống liên kết lời nói của Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong tiếng Việt của Phạm Văn Tình (2002)… Có thể khẳng định: Sự ra đời của ngành ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam với tên tuổi của Trần Ngọc Thêm là một bước tiến đáng kể trong tiến trình ngữ pháp học thế kỷ XX.

Đinh Văn Đức và vấn đề từ loại tiếng Việt (1986)

Như đã nói, việc nghiên cứu từ loại đã được tiến hành từ rất lâu, gắn với sự ra đời của ngữ pháp học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung. Ở Việt Nam, nội dung này đã từng được bàn đến trong hầu hết các sách về ngữ pháp, sớm nhất là từ Alexand de Rhode. Thường thì mỗi tác giả lại có một thành công riêng về một hoặc một vài khía cạnh nào đó trong nghiên cứu từ loại. Thành công của Đinh Văn Đức trước hết là ở chỗ vẽ nên một bức tranh chung về tình hình nghiên cứu từ loại ở Việt Nam cho đến những năm 80. Sau nữa là những đóng góp cụ thể nhằm vào việc lý giải cặn kẽ hơn về các đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ loại, cải tiến và điều chỉnh một số khía cạnh có tính chất lý luận trên cơ sở bám sát vào các đặc điểm của tiếng Việt. Tác giả không đưa thêm các tiêu chuẩn để phân định từ loại, song việc hệ thống hoá chúng một cách đầy đủ là một việc làm hữu ích. Phần bàn về loại danh từ trừu tượng khá sâu. Phần viết về động từ, cả những trang viết thêm năm 2000, rất hấp dẫn và rất có giá trị trong việc giải quyết vấn đề thời, thể trong loại hình ngôn ngữ đơn lập phân tích tính.

Tuy nhiên, việc phân kho từ vựng tiếng Việt làm ba loại: thực từ, hư từ và tình thái từ cũng cần phải bàn thêm. Cách diễn đạt của tác giả đôi chỗ làm người đọc khó hình dung đại từ và số từ là thuộc nhóm thực từ hay hư từ… Song, vượt trên tất cả những điều ấy, giá trị của cuốn sách là rất lớn. Có thể nói, nó là cuốn sách tường minh và tỷ mỷ nhất về từ loại tiếng Việt tính đến thời điểm bấy giờ.

Hồ Lê và phương pháp nghiên cứu cú pháp (1991)

Hồ Lê không chỉ độc đáo trong cấu tạo từ (1976), Hồ Lê còn đầy cá tính trong phương pháp nghiên cứu cú pháp (1981).

Cuốn sách Cú pháp tiếng Việt, quyển 1 của Hồ Lê đi sâu khám phá một vấn đề mà có lẽ trước đây ít người chú ý. Đó là mối quan hệ giữa cơ chế điều khiển ngôn ngữ của não với cơ chế cú pháp tại lời. Tác giả đi tìm quy tắc cú pháp của tiếng Việt, cho đó là chìa khoá để khám phá lĩnh vực cú pháp. Một loạt vấn đề được đặt ra và giải quyết trong sách này: các quan hệ cú pháp (tuyến tính, hệ hình, thay thế, phi tuyến, siêu tuyến, lôgic); nội dung các mô hình cú pháp dựa trên các quan hệ ấy; các phương pháp tiếp cận cú pháp (phương pháp luận cú pháp trong việc xác định con đường tiếp cận bản chất của cú pháp, trong việc định tính, định lượng các thước đo cú pháp)... Tác giả cũng đưa ra một định nghiã về câu khá thú vị và ngắn gọn mà theo tác giả, nó có thể bao quát hết được mọi loại câu, từ câu bình thường đến câu đặc biệt, từ câu đơn giản một bậc đề thuyết đến câu phức tạp gồm hàng mấy chục từ điền vào cả chục cú nghĩa tố: Câu là từ hoặc chuỗi từ được tình thái hoá thành một đơn vị phát ngôn có tính độc lập (34, tr141). Ông cũng độc đáo trong cách phân chia câu ra làm ba hạng: câu dùng để diễn đạt trong điều kiện không có văn cảnh, câu dùng để diễn đạt trong điều kiện có văn cảnh và câu dùng để đối thoại (34, tr13)…

Phương pháp nghiên cứu cú pháp của Hồ Lê mang đến cho ngữ pháp tiếng Việt một sắc thái mới.

Cao Xuân Hạo và sự lên ngôi của ngữ pháp chức năng (1991)

Năm 1991, cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 của Cao Xuân Hạo ra đời. Cuốn sách đã gây một tiếng vang lớn trước giới ngôn ngữ học Việt Nam và làm xôn xao dư luận trong nước về tính mới mẻ và hiện đại của nó. Cuốn sách gồm hai phần. Phần 1 dẫn luận, giới thiệu những cơ sở lý thuyết của ngữ pháp chức năng, phần 2 tập trung miêu tả câu trong tiếng Việt. Cuốn sách được viết khá dày dặn, công phu, thể hiện một sự uyên bác và tinh tế của một con người đã từng gắn bó lâu năm với ngành ngôn ngữ học. Cuốn sách chính thức đưa khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng lên ngôi ở Việt Nam.

Sơ thảo ngữ pháp chức năng chỉ ra những khiếm khuyết trong nghiên cứu cú pháp giai đoạn trước. Có lẽ dấu ấn của Ferdinand de Saussure vẫn còn in đậm trong tư tưởng nhiều nhà ngữ pháp học cho nên mọi sự nghiên cứu vẫn tập trung vào cơ chế hình thức của hệ thống ngôn ngữ, tách ra khỏi hoạt động đích thực của nó – hoạt động giao tiếp. Tác giả của Sơ thảo cho rằng trước đây chúng ta chỉ nghiên cứu ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, trạng thái tiềm tàng, chứ không quan sát nó trong khi nó được con người sử dụng trong giao tiếp. Ông cũng cho rằng mọi nghiên cứu trước đây của ngữ pháp cổ điển, ngữ pháp cấu trúc luận hay ngữ pháp sản sinh đều chỉ chú ý đến mặt hình thức của ngôn ngữ mà không chú ý tới mặt nghĩa, hoặc có nhưng còn quá sơ lược. Từ đó ông đề cao vai trò của ngữ pháp chức năng, khẳng định nhiệm vụ của nó là nghiên cứu, miêu tả, giải thích các qui tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tế hiện thực (4, tr5).

Sơ thảo ngữ pháp chức năng là một cuốn sách có đóng góp rất lớn cho ngành ngôn ngữ học Việt Nam. Tựu trung lại, những đóng góp của nó phải kể đến là:

1. Cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản của một khuynh hướng nghiên cứu vẫn còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam, khuynh hướng ngữ pháp chức năng, với những tên tuổi của F Danes (1964); S. C Dik (1978, 1981); C. Hagège (1982); V. G Gak (1983); M.A.K Halliday (1985)…

2. Đưa ra mô hình phân tích câu trên ba bình diện: kết học (Syntactics), nghĩa học (Semantics) và dụng học (Pragmatics) dựa trên quan điểm của lý thuyết ký hiệu học của Ch. Morris, 1938, trong đó tác giả nhấn mạnh vào bình diện thứ ba và đòi hỏi cần phải phân biệt rạch ròi cả ba bình diện nói trên.

3. Khẳng định vai trò hết sức quan trọng của một nền ngôn ngữ học về lời nói bên cạnh nền ngôn ngữ học về ngôn ngữ và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.

4. Đề xuất mô hình phân tích câu theo cấu trúc Sở đề – Sở thuyết thay cho hướng phân tích câu theo cấu trúc Chủ - Vị của ngữ pháp truyền thống.

5. Đưa ra những kiến giải mới về một số vấn đề của cú pháp học: khái niệm câu, cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt, cấu trúc nghĩa của câu, phân loại hình câu theo lực ngôn trung và theo nghĩa biểu hiện, những vấn đề về dụng pháp…

Sơ thảo ngữ pháp chức năng là một cuốn sách có giá trị ngôn ngữ học lớn, một cuốn sách rất tường minh và cặn kẽ về cấu trúc ngữ nghĩa của câu (47, tr84), một cuốn sách đã ứng dụng có hệ thống một lý thuyết ngữ pháp có tính thời sự trong những năm cuối thế kỷ. Song đôi chỗ trong cuốn sách vẫn chưa thuyết phục hoàn toàn. (Chẳng hạn: Câu có phải là sự thể hiện ngôn ngữ học của mệnh đề không? Thì, là, mà có phải là những tác tử phân giới đề – thuyết không?…) Tư tưởng của tác giả bao trùm lên những trang sách là sự khẳng định rằng chúng ta biết ơn những nhà ngôn ngữ học Âu châu nhưng không phải cái gì họ cũng đúng; chúng ta hơn họ ở chỗ là chúng ta biết tiếng Việt. Tinh thần chống chủ nghĩa dĩ Âu vi trung quyết liệt của tác giả là rất đáng quý nhưng có lẽ điều đó đã khiến tác giả hơi khắt khe khi nhìn về ngữ pháp truyền thống. Đó đây trong những bài viết của mình, tác giả cho rằng ngữ pháp của chúng ta là thứ ngữ pháp tiếng Pháp có ví dụ minh hoạ bằng tiếng Việt. Nó hoàn toàn không có giá trị đối với việc dạy và học tiếng Việt. Vô hình trung, tác giả đã phủ nhận những giá trị mà ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp cấu trúc mang lại.

Hơn mười năm đã trôi qua kể từ ngày Sơ thảo ngữ pháp chức năng ra đời. Khoảng thời gian khá dài ấy cộng với những bình tĩnh, chín chắn của ngày hôm nay khiến nhiều người bắt đầu cảm thấy một vài bất ổn trong những trang viết đầy uyên bác và hấp dẫn của Cao Xuân Hạo. Song dòng chảy ngữ pháp chức năng mà Cao Xuân Hạo đã khơi nguồn vẫn đang rào rạt trong những nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu (1992, 1993), của Lê Đông (1993, 1996), của Nguyễn Thị Quy (1995), Đào Thanh Lan (1996, 2002), Diệp Quang Ban (1999), Hoàng Văn Vân (2002)… Ông vẫn là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất làm nên diện mạo của ngữ pháp Việt Nam thế kỷ XX này.

Bùi Minh Toán và cú pháp tiếng Việt (1992)

Bùi Minh Toán được biết đến trong giới ngôn ngữ học bằng khá nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành và một số lượng không nhỏ sách chuyên khảo, giáo trình đại học. Nghiên cứu của Bùi Minh Toán khá đa dạng, trước hết là về chuỗi động từ trong tiếng Việt (Luận án tiến sỹ 1981), những vấn đề đại cương về ngữ pháp (trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học1993), Phương pháp dạy học tiếng Việt (1996), Tiếng Việt thực hành (1997), Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt (1999)… Song trăn trở lớn nhất của tác giả có lẽ là dành cho cú pháp, trong đó có cấu trúc chủ-vị (Tiếng Việt, 1992).

Đọc sách của Bùi Minh Toán, có lẽ ấn tượng nhất là lối trình bày hết sức giản dị, rõ ràng. Tác giả không hấp dẫn người đọc bằng thứ văn chương hoa mỹ mà bằng sự dễ hiểu trong cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề. Phần đại cương về ngữ pháp là một phần khó, trừu tượng, song lối diễn giải của tác giả lại rất rành mạch. Các quan điểm về câu trong Tiếng Việt cũng rất cụ thể. Cùng với Diệp Quang Ban và những người khác nữa, ông đứng về phiá bênh vực cho quan điểm phân tích câu theo cấu trúc chủ – vị ở Việt Nam.

Bùi Minh Toán đã để lại một dấu ấn trong ngành ngữ pháp học tiếng Việt.

Nguyễn Thị Quy và hướng nghiên cứu vị từ hành động trên quan điểm ngữ pháp chức năng (1995)

Trên dòng chảy ngữ pháp chức năng mà Cao Xuân Hạo đã khơi nguồn, Nguyễn Thị Quy là một tay bơi giỏi. Không áp dụng ngữ pháp chức năng để nghiên cứu cú pháp tiếng Việt như người thầy của mình, Nguyễn Thị Quy đến với lĩnh vực từ pháp. Đề tài mà tác giả chọn - vị từ hành động - không phải là một đề tài có tính thời sự trong nghiên cứu ngữ pháp ở Việt Nam. Đề tài này đã từng xuất hiện trong những công trình nghiên cứu của Lê Văn Lý (1948), của Trần Trọng Kim (1950), của M. B. Emeneau (1951), của Bùi Đức Tịnh (1952), của Nguyễn Kim Thản (1977)… Song cần phải ghi nhận rằng, đến Nguyễn Thị Quy, đề tài này mới được khai thác triệt để và nhất quán. Trên quan điểm chức năng, tác giả đề ra nguyên lý làm nền tảng cho việc nghiên cứu của mình là: (a) Phân biệt dứt khoát ba bình diện cú pháp, nghĩa học và dụng pháp để xác định thật rõ mối quan hệ chức năng giữa ba bình diện đó, và (b) căn cứ một cách nhất quán vào những tiêu chí hình thức nhưng không coi đó là mục đích cuối cùng của việc phân loại mà sử dụng nó như những cứ liệu để phát hiện những đặc trưng về nghĩa và dụng pháp (65, tr9). Có thể nói, điểm nổi bật trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Quy là phát hiện ra nhược điểm của hướng nghiên cứu dựa vào mặt hình thức ngữ pháp, chủ yếu là khả năng kết hợp của từ để phân biệt động từ và tính từ. Con số thống kê của tác giả đầy sức thuyết phục: có khoảng 700 từ là động từ nhưng lại có thể kết hợp với rất, khá, hơi; và có khoảng gần 900 từ không thể kết hợp với rất, khá, hơi nhưng lại được xếp vào loại tính từ. Tác giả cũng trình bày một danh sách cụ thể về các động từ đi sau các từ trên trong phần phụ lục của cuốn sách. Danh sách ấy quả thực là rất hữu ích đối với những người quan tâm tới tiếng Việt. Theo tác giả, cần loại bỏ sự phân biệt động từ/ tính từ, gọi chung là vị từ. Trên tinh thần của S. C. Dik (1978), tác giả cũng đề ra 2 tiêu chí cơ bản để phân loại các vị từ là sự đối lập về tính động [± động] và tính chủ ý [± chủ ý]. Cách phân chia này hợp với tiếng ta hơn, trong khi phân chia Verb/Adjectij chỉ hợp với các thứ tiếng châu Âu. Tác giả cũng đã đi sâu vào các tiểu loại của vị từ hành động tiếng Việt, cách diễn đạt các vai nghĩa của khung vị ngữ hành động bằng các bổ ngữ của vị từ trong tiếng Việt.

Công trình Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó là kết quả của một sự lao động nghiêm túc và tỷ mỷ. Nó có một ý nghĩa hết sức tích cực trong việc khẳng định vị trí của khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng ở Việt Nam.

Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp với những giải pháp hữu hiệu cho thành phần câu tiếng Việt (1997)

Có thể nói, nội dung cốt lõi của cú pháp học là vấn đề cấu trúc câu. Trong các lý thuyết phân tích cấu trúc câu (như lý thuyết thành tố trực tiếp, lý thuyết phân đoạn thực tại, lý thuyết từ tổ, ngữ pháp cải biến, ngữ pháp tạo sinh, ngữ pháp chức năng…) thì lối phân tích câu theo thành phần là lý thuyết cổ xưa nhất nhưng cũng gắn bó và phổ biến nhất đối với hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới. Tuy nhiên, mặc dù đã được nghiên cứu từ rất lâu, nhưng những ồn ào trong cú pháp học về vấn đề này ở Việt Nam cho đến thập niên 90 của thế kỷ trước vẫn chưa chấm dứt. Vấn đề thành phần câu là gì, danh sách thành phần câu và tiêu chí xác định chúng không phải một sớm một chiều tìm được tiếng nói chung. Để góp phần giải quyết những vấn đề ấy, năm 1997, lý thuyết thành phần câu của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp ra đời.

Giải pháp thành phần câu của hai tác giả được xây dựng trên nền móng của sự hoà hợp giữa lý luận ngôn ngữ học hiện đại và ngữ pháp truyền thống ở Việt Nam. Đó là sự vận dụng hết sức tinh tế và uyển chuyển các nguyên tắc và thủ tục phân tích cú pháp của nhà Hán ngữ học người Nga S.E.Jakhontov trong một bài báo công bố năm 1971 nhan đề Những nguyên tắc phân tích thành phần câu trong tiếng Hán, với 6 khái niệm công cụ: phép phân tích thành tố trực tiếp, phép lược, phép thế, phép bổ sung, phép cải biến và phép nguyên nhân hoá. Trên cơ sở tổng kết và phân tích hết sức chi tiết những ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp đã đưa ra một giải pháp rất chặt chẽ và triệt để cho vấn đề thành phần câu trong tiếng Việt. Việc đưa bổ ngữ vào trong cấu trúc nòng cốt câu, hay đưa tình thái ngữ và định ngữ câu vào danh sách các thành phần phụ của câu là một vấn đề khá mới mẻ. Nó biểu hiện sự tiếp cận lý thuyết ngôn ngữ theo khuynh hướng hiện đại, chú ý đến bình diện dụng học của câu - câu trong giao tiếp. Phần trình bày chi tiết của hai tác giả về nòng cốt câu, vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ câu, khởi ngữ, tình thái ngữ khá nhất quán và thuyết phục. (Năm 1981, trong luận án tiến sĩ của mình, Nguyễn Minh Thuyết cũng đã trình bày khá cụ thể về tiêu chí nhận diện chủ ngữ trong tiếng Việt dựa trên xu hướng hình thức hoá trong nghiên cứu cú pháp). Các thành phần câu bao giờ cũng được nhận diện trên cơ sở phân biệt tỉ mỉ với những thành phần gần giống chúng, dễ gây nhầm lẫn. Chẳng hạn bổ ngữ được phân biệt với chủ ngữ, khởi ngữ; trạng ngữ được phân biệt với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản (thuộc cấu trúc bậc trên câu), và với các yếu tố chỉ phụ thuộc vào một từ (thành tố của cấu trúc bậc dưới câu)… Tiêu chí phân biệt khá rạch ròi.

Giải pháp về thành phần câu tiếng Việt của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp là một hy vọng chấm dứt những ồn ào trong ngôn ngữ học từ bấy lâu nay về vấn đề này.

Đánh giá chung về tiến trình ngữ pháp học Việt Nam

Ba giai đoạn phát triển của ngữ pháp học thế kỷ XX

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh rất nặng nề. Mảnh đất Việt Nam chưa được ba chục năm ngưng tiếng súng. Ảnh hưởng của chiến tranh vẫn còn ghi dấu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự phát triển của nhiều ngành khoa học. Dĩ nhiên, ngôn ngữ học cũng không là ngoại lệ. Điều này góp phần giải thích tại sao, so với thế giới, thành tựu của ngôn ngữ học Việt Nam nói chung và ngữ pháp học nói riêng còn quá khiêm tốn. Có những lý thuyết vào Việt Nam chậm tới hàng thập kỷ. Song có thể khẳng định, những khuynh hướng, trường phái, phương pháp chủ yếu trên thế giới, dù muộn, cũng đã có mặt ở đây. Và những nghiên cứu của chúng ta, dù ít ỏi, cũng có đóng góp vào kho tàng lý luận ngôn ngữ học thế giới về mảng loại hình ngôn ngữ đơn lập. Căn cứ vào lịch sử dân tộc Việt và căn cứ vào những trào lưu chủ yếu trong nghiên cứu ngôn ngữ, có thể tạm chia tiến trình ngữ pháp học Việt Nam thành ba giai đoạn: (1) Trước năm 1945, (2) Từ năm 1945 đến năm 1990 và (3) Từ những năm 90 đến nay.

Giai đoạn 1: Trước năm 1945

Mặc dù trong một thời gian dài, người ta cho rằng ngữ pháp chính là toàn bộ ngôn ngữ học, nhưng ban đầu, sự hiểu biết của chúng ta về ngữ pháp rất giản đơn, bó hẹp trong phạm vi một vài luật lệ của thơ, của văn vần. Từ Cách mạng tháng Tám trở về trước, những nghiên cứu về ngữ pháp đã xuất hiện nhưng còn khá rời rạc, lẻ tẻ. Có thể nói, trong giai đoạn này, chúng ta chưa có một ngành ngữ pháp độc lập, với một hệ thống lý luận riêng, những phạm trù riêng. Nghiên cứu ngữ pháp của ta chủ yếu dựa trên phương pháp sao chụp, mô phỏng ngữ pháp châu Âu. Khuynh hướng từ bản vị trong nghiên cứu cú pháp trên tinh thần dĩ Âu vi trung mà Trần Trọng Kim là người đại diện, minh chứng cho điều ấy.

Ngữ pháp châu Âu bắt nguồn từ ngữ pháp của người Hilạp, mà cụ thể là thứ ngữ pháp vừa dính với triết học, vừa dính với tâm lý học và lôgíc học mà Arixtot (khoảng thế kỷ IV - thế kỷ V TCN) là người khởi xướng. Ngữ pháp châu Á lại bắt nguồn từ ngữ pháp châu Âu. Do vậy, việc chúng ta mô phỏng, bắt chước châu Âu là điều dễ hiểu.

Hơn nữa, dân tộc ta đã từng chịu sự thống trị hàng trăm năm của đế quốc Pháp, hàng nghìn năm của phong kiến phương Bắc. Trước năm 1945, ở Việt Nam song song tồn tại 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán; bốn văn tự: Pháp, Hán, Nôm, Quốc ngữ. Điều ấy có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là khoa học nghiên cứu về chính bản thân ngôn ngữ. Dù sao, đây vẫn là giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn đặt nền móng cho sự ra đời của một ngành khoa học thực sự, nghiên cứu về ngữ pháp, ở Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX.

Giai đoạn 2: Từ năm 1945 đến năm 1990

Cách mạng tháng Tám thành công, lần đầu tiên trong lịch sử, tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ chính thống ở Việt Nam, được dùng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng ta đã có những nghiên cứu sâu hơn, độc lập hơn về tiếng Việt, đánh dấu bằng sự chuyển đổi trong quan điểm nghiên cứu từ từ bản vị sang cú bản vị của Phan Khôi (1955). Chủ nghĩa cấu trúc bắt đầu được biết đến ở Việt Nam qua Le parler Vietnamien (1948) của Lê Văn Lý.

Những năm 60 là giai đoạn nở rộ của những lý thuyết nghiên cứu mới: lý thuyết từ tổ (Nguyễn Kim Thản), phân tích câu trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân (Lưu Vân Lăng), ngữ pháp cấu trúc theo lối miêu tả của Nguyễn Tài Cẩn, đặc biệt là hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận - phân tích câu theo thành tố trực tiếp - của nhà Việt ngữ học người Nga Ju. K Lekomcev, rồi những ảnh hưởng của ngữ pháp tạo sinh qua Cơ cấu Việt ngữ của Trần Ngọc Ninh…

Theo dòng thời gian, càng ngày việc nghiên cứu ngữ pháp của chúng ta càng được đẩy mạnh. Các nhà ngữ pháp học đã bắt đầu dùng lý luận chung của ngôn ngữ học hiện đại vào việc miêu tả riêng một ngôn ngữ cụ thể. Mọi nghiên cứu đều cố gắng đi sâu vào việc tìm kiếm đặc trưng của tiếng Việt - một ngôn ngữ vốn rất xa lạ với các ngôn ngữ Ấn Âu về mặt loại hình.

Nhiều cuộc hội thảo về ngữ pháp học đã được tổ chức (năm 1959-1960, 1969-1970, 1981). Đó là những diễn đàn cần thiết để các nhà ngữ pháp học công khai bày tỏ ý kiến riêng của mình. Có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập, nhưng bản chất của khoa học là thế; tất cả, dù ít dù nhiều, đều có đóng góp vào phong trào chung. Điều đó thể hiện sự phong phú, đa dạng của các lý thuyết, các khuynh hướng, các kiến giải cụ thể trên mảnh đất ngữ pháp học.

Việc dạy và học ngữ pháp trong các trường đại học, cao đẳng trên cả nước được đẩy mạnh đồng nghĩa với sự ra đời của hàng loạt chuyên luận, giáo trình đại học, mà nguồn cung cấp chủ yếu là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (với các tên tuổi: Nguyễn Tài Cẩn, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Cao Đàm, Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Lai, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Anh Quế, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Ngọc Thêm…); Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Bùi Minh Toán, Lê A, Lê Cận, Phan Thiều…); Viện Ngôn ngữ học (Nguyễn Kim Thản, Lưu Văn Lăng, Lê Xuân Thại, Hồng Dân, Hoàng Tuệ…). Những hiện tượng, những bài báo gây được nhiều chú ý trong giai đoạn này là Bước đầu nhận xét về đặc điểm ngữ điệu tiếng Việt của Hoàng Cao Cương, Giới thiệu lý thuyết phân đoạn thực tại của Lý Toàn Thắng…

Giai đoạn 3: Từ những năm 90 đến nay

Người cắm mốc đánh dấu sự ra đời của giai đoạn thứ ba - giai đoạn ngữ pháp chức năng (Function Grammar) - trong tiến trình ngữ pháp học Việt Nam là Cao Xuân Hạo. Đây là một hướng nghiên cứu mới, đã được vận dụng một cách có hiệu quả vào việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt trong khoảng 10 năm trở lại đây. Câu bắt đầu được nghiên cứu ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh như trước. Quan niệm về cấu trúc câu dần dần thay đổi. Hướng phân tích câu theo cấu trúc đề - thuyết ra đời. Dĩ nhiên đây không phải là cuộc cạnh tranh một mất một còn với nghiên cứu câu theo cấu trúc chủ – vị, mà chỉ là một hướng tiếp cận mới, bổ sung cho những hiểu biết về câu. Hội thảo về ngữ pháp chức năng được tổ chức năm 1992 ngay sau khi Sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo ra đời. Các bài báo, các sách giới thiệu về ngữ pháp chức năng cũng bắt đầu xuất hiện (các tác giả tiêu biểu là Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Hoàng Văn Vân…). Các ứng dụng của lý thuyết này vào việc nghiên cứu tiếng Việt cũng ngày một nhiều hơn. Trong Nam, phong trào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm chức năng trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, với các tên tuổi: Nguyễn Đức Dương, Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Quy, Hoàng Xuân Tâm… Ngoài Bắc có Đào Thanh Lan, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp…

Trên quan điểm thống hợp về nghiên cứu ngôn ngữ, ngữ pháp chức năng ngày càng xích lại gần với dụng học hơn. Bởi nghiên cứu ngôn ngữ theo hoạt động hành chức giao tiếp phải nói tới chức năng. Nhưng hễ đã nói tới chức năng thì lập tức nói tới dụng học. Phương diện dụng học cũng tức là phương diện chức năng trong giao tiếp của ngôn ngữ. (22, tr10). Không phải ngẫu nhiên mà từ những năm 60, nhiều tư tưởng ngữ pháp chức năng như Austin J.L, Ducrot O, Grice H.P, Dik S.C, Hagège C đều nhấn mạnh rất nhiều đến dụng học. (32, tr48). Những nghiên cứu về dụng học hay những nghiên cứu trên quan điểm thống hợp giữa chức năng và dụng học ra đời, với các gương mặt: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Lê Đông, Nguyễn Thiện Giáp, Hồ Lê, Nguyễn Lai, Lê Xuân Thại, Đào Thản …

Những năm 90 cũng là những năm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong phân tích ngữ pháp, trong đó có sự nhấn mạnh bình diện chức năng của câu, các tham tố nghĩa, ngữ pháp vai, ngữ pháp lời, nhân tố phân tích diễn ngôn…

Không giống với bất cứ một tiến trình ngữ pháp học của một ngôn ngữ nào trên thế giới, tiến trình ngữ pháp học Việt Nam ngót một thế kỷ qua là sự đan xen, khó chia cắt của rất nhiều khuynh hướng khác nhau cùng song song tồn tại. Đơn cử một ví dụ: Trên thế giới, chủ nghĩa cấu trúc ra đời khoảng năm 1913, phát triển rầm rộ những năm 50, đến năm 1956 chủ nghĩa này đi vào tàn lụi. Tuy nhiên, ở Nga Xô viết, 1970, chủ nghĩa cấu trúc vẫn đang thịnh hành. Còn ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa này vẫn đang tồn tại và phát triển. Có thể khẳng định rằng: Tới những năm đầu của thế kỷ XXI, bức tranh của ngữ pháp học Việt Nam vẫn được vẽ nên bởi ba khuynh hướng chính: ngữ pháp cổ điển, ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp chức năng.

Những vấn đề ngữ pháp tiêu biểu

Vấn đề từ loại

Người ta tính thời điểm ra đời của ngành ngôn ngữ học là căn cứ vào thời điểm ra đời của ngữ pháp học. Mà trong ngữ pháp học, vấn đề được quan tâm đầu tiên, vấn đề cổ xưa nhất chính là từ loại.

Ở Việt Nam, từ loại cũng là vấn đề được nghiên cứu sớm nhất song cũng là vấn đề có nhiều ý kiến trái ngược nhau nhất. Có ba khuynh hướng chính trong nghiên cứu từ loại:

  1. Khuynh hướng phủ nhận phạm trù từ loại trong tiếng Việt.
  2. Khuynh hướng mô phỏng.
  3. Khuynh hướng xuất phát từ đặc điểm tiếng Việt để xác định từ loại.

Đại diện cho khuynh hướng thứ nhất là Grammông và Lê Quang Trinh 1911, Hồ Hữu Tường 1949, Nguyễn Hiến Lê 1952… Các tác giả này cho rằng vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính; từ không biến đổi hình thái nên không có căn cứ để xác định từ loại.

Đại diện cho khuynh hướng thứ hai là A. de Rhode 1651, Trương Vĩnh Ký 1883, Trương Vĩnh Tống, Trần Trọng Kim 1940, Trà Ngân 1943, Bùi Đức Tịnh 1952… Cách làm của các tác giả này là một sự sao chép, dịch chuyển, dựa vào ngôn ngữ châu Âu để xác định từ loại tiếng Việt. Căn cứ phân định từ loại là chủ yếu dựa vào ý nghĩa.

Khuynh hướng thứ ba được tính từ Lê Văn Lý 1948, người đầu tiên tìm ra tiêu chí giá trị kết hợp để phân định từ loại. Tiếp theo là Phan Khôi 1955, cho rằng muốn phân định từ loại, phải dựa vào chức năng ngữ pháp của từ trong câu. Sau này Nguyễn Tài Cẩn 1975 cũng đã đề xuất một hướng nghiên cứu mới về từ loại là căn cứ vào đoản ngữ. Những nghiên cứu tiếp theo là sự bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí ấy, tìm ra danh sách các từ loại và miêu tả chúng trên cơ sở bám sát vào ngữ liệu tiếng Việt. Quan điểm mạnh mẽ nhất tồn tại đến ngày nay là dựa vào cả ba tiêu chí: ý nghĩa, giá trị kết hợp và chức vụ cú pháp. Đây cũng là quan điểm triệt để nhất.

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá
Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự