Tài liệu

Xuất khẩu lao động

Science and Technology

Lý luận chung về xuất khẩu lao động

Khái quát chung về xuất khẩu lao động

Khái niệm về xuất khẩu lao động

Một trong những thế mạnh của nguồn lao động nước ta là dồi dào, phong phú, người lao động cần cù, thông minh, chịu khó, dễ thích nghi với công việc nhưng do dân số nước ta tăng nhanh trong khi đó các nhà máy xí nghiệp lại quá ít làm cho nguồn lao động của nước ta bị dư thừa, tình trạng lao động ở nông thôn ào ạt lên thành thị tìm việc làm ngày càng nhiều làm cho nạn thất nghiệp càng cao. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một trong những chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với định hướng đó, trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2001 – 2010, Đảng ta đã xác định: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân…..” “ Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, xây dựng và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế chính sách về đào tạo nguồn lao động, đưa lao động ra nước ngoài, bảo vệ quyền lợi và tăng uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài”. Dù là nam hay nữ, trung nông hay tiểu nông….bất cứ dân tộc nào và có tín ngưỡng tôn giáo hay không đều có quyền tự do lựa chọn hình thức lao động, thời gian lao động, lĩnh vực lao động….sao cho phù hợp với trình độ và năng lực của mình, tăng thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, không ai có quyền “Cưỡng bức người lao động dưới bất kỳ hình thức nào”. Vậy xuất khẩu lao động là gì?

Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Xuất khẩu lao động không những giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước mà còn đẩy mạnh hợp tác kinh tế, văn hoá khoa học kỹ thuật….giữa Việt Nam và các nước trên thế giới theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một khâu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.

Những đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế. Bởi vì, nó nhằm thực hiện chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời để thỏa mãn lợi ích kinh tế của người lao động đi làm việc ở nước ngoài, góp phần tăng thêm nguồn ngân sách của Nhà nước.

Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội.Nói xuất khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao động không tách khỏi người lao động. Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với các chính sách xã hội. Phải đảm bảo làm sao để người lao động

ở nước ngoài được lao động như đã cam kết trong hợp đồng lao động, cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài và trở về nước.

Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động.

Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 – 1990) Việt Nam tham gia thị trường lao động, về cơ bản Nhà nước vừa quản lý Nhà nước vừa quản lý về hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế về hoạt động xuất khẩu lao động.

Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động xuất khẩu lao động đều do các tổ chức xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký. Đồng thời, các tổ chức xuất khẩu lao động phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh tế trong hoạt động xuất khẩu lao động của mình. Như vậy, các hiệp định, các thoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô.

Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tính gay gắt trong cạnh tranh của xuất khẩu lao động xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là, xuất khẩu lao động mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, do vậy, đã buộc các nước xuất khẩu lao động phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước. Hai là, xuất khẩu lao động đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực: Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…..cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao động và chuyên gia nước ngoài trong thời gian từ 5 đến 10 năm đầu của thế kỷ 21.

Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trước được tính chất cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu lao động để có chương trình đào tạo có chất lượng cao để xuất khẩu.

Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động.Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ mà người lao động gởi về các khoản thuế, lợi ích của các tổ chức xuất khẩu lao động là các khoản thu được chủ yếu là các loại phí giải quyết việc làm ngoài nước, còn lợi ích của người lao động là khoản thu nhập thường là cao hơn nhiều so với lao động ở trong nước. Do vậy, các chế độ chính sách của Nhà nước phải tính toán sao cho đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên, trong đó phải chú ý đến lợi ích trực tiếp cuả người lao động.

Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi. Bởi vì, hoạt động xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động, do vậy, cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình đào tạo giáo dục, định hướng phù hợp và linh hoạt. Chỉ có những nước nào chuẩn bị đội ngũ công nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước và cũng chỉ có nước nào nhìn xa, trông rộng, phân tích đánh giá và dự đoán đúng tình hình mới không bị động trước sự biến đổi của tình hình đưa ra chính sách đón đầu trong hoạt động xuất khẩu lao động.

Tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế

Ở nhiều nước trên thế giới, xuất khẩu lao động đã là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích khác. Những lợi ích này đã buộc các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trường lao động ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệ cung - cầu sức lao động. Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao để bù đắp được chi phí và phần lãi, vì vậy cần phải có cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động. Bên cầu phải tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả của việc nhập khẩu lao động. Xuất khẩu lao động luôn đem lại lợi ích kinh tế của cả ba bên: Tăng nguồn thu nhập ngoại tệ cho Nhà nước, tổ chức hoạt động xuất khẩu lao động thu được lợi nhuận từ các chi phí dịch vụ xuất khẩu lao động. Đặc biệt, người lao động tăng được thu nhập của mình, giúp cho cuộc sống gia đình được đầy đủ và cải thiện hơn. Vì vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnh pháp luật phải luôn luôn bám sát đặc điểm này của hoạt động xuất khẩu lao động, làm sao để mục tiêu kinh tế phải là mục tiêu số một của mọi chính sách pháp luật về xuất khẩu lao động.

Xuất khẩu lao động là hoạt động mang tính xã hộibởi vì đó là một trong những chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện chính sách xã hội. Khi một người lao động đi xuất khẩu lao động không những giải quyết việc làm của riêng họ mà với mức thu nhập từ lao động ở nước ngoài sẽ là nguồn hổ trợ có hiệu quả cho gia đình họ để đầu tư, giải quyết việc làm cho những người lao động trong nước.

Xuất khẩu lao động còn có tác dụng tích cực trong việc bồi dưỡng nguồn nhân lực, rèn luyện, nâng cao tay nghề chuyên môn, rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật và tác phong quản lý, có điều kiện mở rộng vốn hiểu biết về mọi mặt chẳng hạn: Ngôn ngữ, phong tuc tập quán của nước bạn. Trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, xuất khẩu lao động còn có tác dụng tích cực trong việc mở rộng quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Quan điểm, chính sách của Nhà nước về xuất khẩu lao động

Cùng với giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công ngiệp hoá - hiện đại hoá đất nước; là một bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước trên thế giới.

Xuất khẩu lao động và chuyên gia phải được mở rộng và đa dạng hoá hình thức, thị trường xuất khẩu lao động phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu của nước ngoài về số lượng, trình độ và ngành nghề. Xuất khẩu lao động và chuyên gia một mặt phải đảm bảo sức cạnh tranh trên cơ sở tăng cường đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật và chuyên gia, nâng dần tỉ trọng lao động có chất lượng cao trong tổng số lao động xuất khẩu và nâng cao trình độ quản lý của các đơn vị xuất khẩu lao động; mặt khác, phải chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo pháp luật của nước ta và nước mà người lao động sống và làm việc. Phải có chính sách ưu đãi đối với người xuất khẩu lao động khi họ đã hoàn thành hợp đồng.

Phát triển và khuyến khích đào tạo nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục ý thức pháp luật, làm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp và người lao động về thực hiện hợp đồng, tôn trọng phong tục tập quán, văn hoá, hoà nhập thị trường lao động quốc tế.

Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã từng bước thể chế hoá thành các qui định pháp luật phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực. Trong lĩnh vực lao động tại điều 134 Bộ luật Lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2002) có qui định : “ Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động nhằm tạo việc làm ở nước ngoài cho người lao động Việt Nam theo qui định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập”

Tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam qua các giai đoạn

Hoạt động xuất khẩu lao động đến nay đã được hơn hai mươi năm (tính từ tháng 1 năm 1980 đến nay ) có thể chia quá trình hoạt động xuất khẩu lao động làm hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu là hợp tác lao động nhằm giải quyết việc làm và đào tạo tay nghề cho người lao động (NQ362/CP-29/11/1980), sau đó là mở rộng hợp tác với nước ngoài, coi nhiệm vụ kinh tế là quan trọng nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề và thu nhập cho người lao động (CT108/ HĐBT- ngày 30/ 06/1988).

Và hiện nay là mở rộng và đa dạng hoá hình thức thị trường xuất khẩu, coi xuất khẩu lao động như một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu nhập cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới.

Giai đoạn hợp tác lao động với nước ngoài ( 1980 – 1990 )

Để thực hiện hợp tác lao động với nước ngoài, thời kỳ này Nhà nước ta đã ký hiệp định Chính phủ về hợp tác lao động với bốn nước: Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari. Hiệp định Chính phủ về hợp tác chuyên gia với một số nước châu Phi và thoả thuận ngành với ngành về sử dụng lao động Việt Nam với các nước I-Rắc, Li – Bi. Đây là giai đoạn có qui mô lao động đi làm việc ở nước ngoài lớn nhất, bình quân mỗi năm có trên 2,7 vạn lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài ( Xem bảng 1).

Nhìn chung, lao dộng đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này có tỉ trọng lao động không nghề lớn khoảng 57 %, đặc biệt những năm 1988, 1989, 1990 tỉ lệ này đạt 70 %. Phần lớn lao động trước khi đi không qua đào tạo, khi đến nước tiếp nhận, lao động được phân phối về các đơn vị sản xuất được kèm cặp, đào tạo tại chổ, được trang bị tay nghề phù hợp với các xí nghiệp, nhà máy bạn yêu cầu. Có thể thấy 45 % lao động làm trong ngành công nghiệp nhẹ, 26 % lao động trong xây dựng và 20 % làm cơ khí, 6 % làm nghề nông nghiệp và chế biến thực phẩm, 3 % còn lại làm các ngành nghề khác. Cơ cấu này không phải được phân chia tại Việt Nam mà do phía tiếp nhận, mọi chi phí đào tạo do họ đài thọ.

Trong giai đoạn này, chúng ta đã đạt được một số kết quả như:

Giải quyết việc làm ở nước ngoài cho trên 28,8 vạn người. Trong đó 26,18 vạn ở bốn nước Xã Hội Chủ Nghĩa, 19 vạn ở I-Rắc, Li-Bi và 7200 chuyên gia và kỹ thuật viên đi làm việc ở Châu phi.

Đào tạo nghề cho thanh niên, đồng thời qua đó người lao động được rèn luyện tác phong công nghiệp.

Hiệu quả kinh tế : Ngân sách Nhà nước đã thu được 482 triệu Rúp phi mậu dịch (tương đương 263 tỉ đồng (1990) và 9,2 triệu USD) dùng để trả nợ, mua hàng hoá và đưa vào cán cân thanh toán với các nước. Thu nhập của một bộ phận người lao động được nâng cao thông qua việc mua hàng hoá mang về nước khoản 720 tỉ đồng và chuyển về nước khoảng 300 triệu USD. Như vậy, tổng thu nhập về qua hợp tác lao động thời kỳ này đạt khoảng 1200 tỉ đồng tính theo thời giá năm 1990, chưa kể đến các hiệu quả kinh tế về thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, góp phần cân đối tiền – hàng cho xã hội. Nhà nước không phải bỏ đầu tư kinh phí việc làm cho người lao động trong thời gian họ làm việc ở nước ngoài.

Ngoài ra, hợp tác lao động còn thể hiện quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước anh, em bạn bè: Ta thấu hiểu việc làm, họ thiếu nhân công, lao động cuả ta đã góp phần vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy của họ. Người lao động của ta cũng đã góp phần làm cho công nhân, nhân dân các nước hiểu thêm về đất nước và con người Việt Nam.

Qui mô lao động đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 1980 – 1990:(không bao gồm 7200 chuyên gia và gần 24000 thực tập sinh học nghề tại các nước Đông Âu.)
Năm Tổng số Nữ Không nghề Có nghề
1980 1.570 592 1.570 100
1981 20.230 5.586 14.882 73.5
1982 25.970 8.176 13.784 12.186 46.9
1983 12.402 4.634 7.790 4.603 37.1
1984 4.489 1.571 1.192 3.297 73.4
1985 5.008 3.040 1.350 3.658 73.0
1986 9.012 3.105 7.212 1.800 20.0
1987 46.098 23.937 25.074 21.024 45.6
1988 71.835 25.637 46.726 25.109 35.0
1989 40.618 15.010 28.584 12.034 29.6
1990 3.069 1.050 2.148 921 30.0
Tổng (1) 240.301 92.238 139.217 101.084 42.0

Giai đoạn hoạt động xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường (từ 1991 đến nay )

Đặc trưng của giai đoạn này là sự thay đổi về qui chế xuất khẩu lao động và qui mô hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu của thị trường lao động. Xuất khẩu lao động ( XKLĐ) của ta phải cạnh tranh với các nước XKLĐ trong khu vực có ưu thế hơn về khả năng và kinh tế chiếm lĩnh thị trường trên nhiều khu vực khác nhau. Do vậy, qui mô XKLĐ trong giai đoạn này giảm so với giai đoạn trước, mặc dù vẫn tăng theo thời gian.

Bình quân hàng năm chỉ gần 1 vạn người lao động đi làm ở nước ngoài.

Số lao động phổ thông có xu hướng giảm và yêu cầu đòi hỏi người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài phải được đào tạo. Mọi người lao động trước khi đi đều được tham dự một khoá đào tạo do công ty cung ứng lao động tổ chức, thời gian chủ yếu là học ngoại ngữ của nước mà lao động sẽ đến làm việc. Ngoài ra còn học tập về pháp luật của nước đó, những điều cần thiết về hợp đồng lao động, tranh chấp lao động, quan hệ ứng xử, phong tục tập quán và an toàn vệ sinh lao động. Nhờ đó, chất lượng lao động trong giai đoạn này được nâng cao hơn. Thời kỳ này, tuy số lượng người đi lao động xuất khẩu giảm nhưng thị trường lại được mở ra hơn trước : Đã có gần 40 nước và lãnh thổ tiếp nhận lao động và chuyên gia Việt Nam. Qua hơn mười năm hoạt động XKLĐ và chuyên gia theo cơ chế thị trường chúng ta đã đạt được một số thành tích đáng kể :

Theo thống kê. Tính đến tháng 6 năm 2001 đã có 140.000 lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài. Riêng năm 2000 có trên 31.400 người. Năm 2002 là 46.120, năm2003 rên 75.000, năm 2004 67.440. Hiện nay mỗi năm lao động xuất khẩu gửi về khoảng 1,5 tỷ USD. (http:/vnepress.net/VietNam/Xa-hoi/2005)

Đã cố gắng mở rộng thị trường lao động mới ở các khu vực Đông - Bắc Á , Đông-Nam Á, Trung Đông. Nam Thái Bình Dương.

Trong những năm qua, với khoảng hơn 140.000 lao động làm việc ở nước ngoài, đất nước ta có thêm nguồn ngoại tệ đáng kể, có khoảng 1 tỉ USD. Mặt khác, Nhà nước còn tiết kiệm hàng trăm tỉ đồng đầu tư cho việc tự tạo việc làm mới cho số lao động này và hàng ngàn tỉ đồng khác liên quan đến các dịch vụ cho người lao động.

Có được những kết quả như trên là do Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương nhất quán, mục tiêu chính sách rõ ràng và thường xuyên chỉ đạo lĩnh vực hoạt động XKLĐ và chuyên gia, coi đây là một hoạt động kinh tế - xã hội rất quan trọng. Vì vậy, hoạt động XKLĐ và chuyên gia rất phù hợp với nền kinh tế thị trường, góp phần cho lao động Việt Nam hoà nhập với thị trường lao động thế giới. Hoạt động này cũng đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân lao động và xã hội, góp phần và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới.

Qui mô xuất khẩu lao động 1991 – 2000 ( đơn vị: người)
Năm Số lượng
1991 1.022
1992 810
1993 3.960
1994 9.230
1995 10.050
1996 12.661
1997 18.469
1998 12.000
1999 20.700
2000 31.468
Tổng 120.370

Các hình thức xuất khẩu lao động

Khái niệm về hình thức xuất khẩu lao động

Hình thức xuất khẩu lao động
Hình thức xuất khẩu lao động là cách thức thực hiện việc đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài do Nhà nước qui định.

Các hình thức xuất khẩu lao động

Các hình thức đưa lao động Việt Nam ở nước ngoài gồm có:

- Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài. Đây là trường hợp các tổ chức kinh tế Việt Nam được phép XKLĐ tuyển dụng lao động Việt Nam để đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao động. Hình thức này tương đối phổ biến, được thực hiện rộng rãi trong các năm vừa qua và những năm tới. Đặc điểm của hình thức này là :Tổ chức kinh tế Việt Nam tổ chức tuyển chọn lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc cho người sử dụng lao động ở nước ngoài; Các yêu cầu về tiêu chuẩn về lao động do phía nước ngoài đặt ra. Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nhận lao động. Quá trình làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam chịu sự quản lý trực tiếp của người sử dụng lao động nước ngoài; các điều kiện và quyền lợi của người lao động do phía nước ngoài bảo đảm. Chính vì vậy, việc thích ứng của người lao động Việt Nam với môi trường lao động nước ngoài có những hạn chế.

- Đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài. Đây là trường hợp doanh nghiệp tuyển lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện hợp đồng kinh tế với bên nước ngoài; các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết chia sản phẩm hoặc các hình thức đầu tư khác ở nước ngoài. Những năm vừa qua, hình thức này tuy chưa phổ biến nhưng theo chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, mở rộng và tăng cường kinh tế đối ngoại thì hình thức này sẽ ngày càng phát triển. Đặc điểm của hình thức này là: Việc tuyển người lao động là để thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp Việt Nam; yêu cầu về tiêu chuẩn lao động, các điều kiện lao động do doanh nghiệp Việt Nam đặt ra, doanh nghiệp Việt Nam sử dụng lao động có thể trực tiếp tuyển dụng lao động hoặc uỷ quyền cho doanh nghiệp cung ứng lao động tuyển lao động. Doanh nghiệp Việt Nam đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, quản lý, sử dụng lao động ở nước ngoài đảm bảo các quyền lợi cho người lao động làm việc ở nước ngoài. Do đặc điểm và hình thức sử dụng lao động này nên quan hệ lao động tương đối ổn định. Việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động của người lao động khi làm việc ở nước ngoài có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, do hợp đồng được thực hiện ở nước ngoài nên ít nhiều có sự ảnh hưởng của pháp luật, phong tục tập quán của nước ngoài. Ngoài việc tuân thủ pháp luật Việt Nam, cả doanh nghiệp Việt Nam quản lý sử dụng lao động và người lao động Viêt Nam còn phải tuân thủ các qui định của pháp luật nước ngoài.

- Theo hợp đồng lao động giữa các cá nhân người lao động với người sử dụng lao động nước ngoài. Hình thức XKLĐ này ở nước ta chưa phổ biến vì muốn ký được hợp đồng với phía nước ngoài, người lao động phải có những hiểu biết cần thiết về nhiều mặt như các thông tin về đối tác nước ngoài, về ngôn ngữ, khả năng giao tiếp với người nước ngoài…vv. Trong khi đó, trình độ hiểu biết các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội và pháp luật của người lao động Việt Nam còn những hạn chế nhất định.

Các nghề và công việc, khu vực cấm đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Nghề và công việc cấm đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Nghề vũ công, ca sĩ, massage đối với lao động nữ tại các nhà hàng, khách sạn và các trung tâm giải trí.

Công việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất nổ, chất độc hại trong luyện quặng kim loại màu (đồng, chì, thuỷ ngân, bạc, kẽm ) dọn rác , vệ sinh, tiếp xúc thường xuyên với Mangan, điôxit thuỷ ngân.

Công việc phải tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở, khai thác quặng phóng xạ các loại.

Công việc sản xuất bao gói phải tiếp xúc thường xuyên với các hoá chất axitnitric, natrisunphat, disunfua cacbon, các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, sát trùng, chống mối mọt có độc tính mạnh.

Những công việc săn bắt thú dữ cá sấu, cá mập Những công việc phải điều trị hoặc trực tiếp phục vụ bệnh nhân các bệnh xã hội ( phong) HIV, những công việc mổ tử thi, liệm, mai táng tử thi, thiêu xác chết, bốc mồ mả.

Những công việc mà pháp luật nước tiếp nhận lao động cấm.

Khu vực cấm đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Khu vực đang có chiến sự hoặc có nguy cơ xảy ra chiến sự

Khu vực bị nhiễm xạ, nhiễm độc

Những khu vực mà pháp luật nước tiếp nhận lao động cấm.

Chế độ pháp lý về xuất khẩu lao động

Điều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật xuất khẩu lao động

Đối với người lao động

  • Đối tượng được xuất khẩu lao động

    Theo qui định tại khoản 2 điều 134 Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002) qui định : “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tự nguyện và có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bên nước ngoài thì được đi làm việc ở nước ngoài”.

  • Đối tượng không được xuất khẩu lao động

    Theo quy định của pháp luật lao động những đối tượng dưới đây không được tuyển đi làm việc ở nước ngoài:

    Cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan dân cử, cơ quan đoàn thể, chính trị, xã hội.

    Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang tại ngũ trong quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

    Người chưa được phép xuất cảnh theo qui định hiện hành của pháp luật. Theo qui định những người chưa được phép xuất cảnh thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    - Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang có nghĩa vụ thi hành bản án hình sự hoặc đang bị cơ quan điều tra yêu cầu chưa cho xuất cảnh hoặc chưa cấp hộ chiếu để phục vụ công tác điều tra tội phạm.

    - Người đang có nghĩa vụ thi hành bản án chờ để giải quyết các vấn đề về tranh chấp dân sự, kinh tế, hành chính, chờ để thi hành quyết định xử phạt hành chính, đang có nghĩa vụ nộp thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản bảo lãnh bằng tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

    - Người đã vi phạm qui chế xuất nhập cảnh và bị xử phạt từ cảnh cáo hành chính trở lên thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 1 đến 5 năm tính từ ngày bị xử lý vi phạm.

    - Người bị nước ngoài trục xuất vì vi phạm pháp luật của nước sở tại, nếu hành vi đó là nghiêm trọng, có hại cho lợi ích và uy tín của Việt Nam thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 1 đến 5 năm tính từ ngày trở về Việt Nam.

    - Người mà Bộ Y tế đề nghị chưa cho xuất cảnh vì lý do y tế

    - Các trường hợp khác vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động

Doanh nghiệp XKLĐ phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhà nước về lao động có thẩm quyền.

  • Đối tượng được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ bao gồm:

    1. Doanh nghiệp Nhà nước

    2. Công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối

    3. Doanh nghiệp thuộc cơ quan trung ương của các tổ chức: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và doanh nghiệp thuộc Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

    4. Các doanh nghiệp khác do Thủ Tướng Chính Phủ xem xét và quyết định

  • Điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ

    Để đảm bảo cho hoạt động XKLĐ đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, đồng thời thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, theo qui định tại điều 9 Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ có qui định về điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ như sau:

    1. Có đề án hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã Hội

    2. Có vốn điều lệ từ 5 ( năm) tỉ đồng trở lên

    3. Có trụ sở làm việc ổn định, có cơ sở đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

    4. Có ít nhất 7 (bảy) cán bộ chuyên trách có trình độ từ cao đẳng trở lên thuộc các chuyên ngành kinh tế, pháp luật và ngoại ngữ. Đội ngũ cán bộ chuyên trách này phải có lí lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, không có tiền án, không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên trong hoạt động XKLĐ.

    5. Ký quỹ 500 ( năm trăm) triệu đồng tại các ngân hàng

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật XKLĐ

Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

  • Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua doanh nghiệp XKLĐ

    1. Được cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động, các thông tin về tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng, thời hạn hợp đồng, loại công việc sẽ làm và nơi làm việc, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền làm thêm giờ, phụ cấp khác (nếu có), chế độ bảo hiểm và những thông tin cần thiết khác theo hợp đồng cung ứng lao động.

    2. Được đào tạo giáo dục, định hướng và cấp chứng chỉ và đóng học phí theo qui định của pháp luật.

    3. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp XKLĐ, ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng đã ký và nội qui nơi làm việc, nơi ở. Không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức lôi kéo người khác bỏ hợp đồng lao động.

    4. Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký theo qui định cuûa pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. Được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, tư pháp.

    5. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại, tôn trọng phong tục, tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại. Chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về quản lý công dân Việt Nam ở nước ngoài.

    6. Nộp phí dịch vụ XKLĐ cho doanh nghiệp XKLĐ Không quá một tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển không quá 1,5 tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc.

    7. Nộp tiền đặt cọc (nếu có) và thực hiện thoả thuận ký quỹ hoặc là bảo lãnh cho doanh nghiệp XKLĐ để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài.

    8. Nộp thuế thu nhập theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

    9. Tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam.

    10. Được chuyển về nước thu nhập bằng ngoại tệ và thiết bị, nguyên liệu theo qui định của pháp luật Việt Nam.

    11. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ, khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm của người sử dụng lao động.

    12. Bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp XKLĐ và bị xử lý do vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật

    13. Được bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp XKLĐ vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.

  • Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc cho doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình, doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài

    1. Được cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật về XKLĐ, các thông tin về tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng, thời hạn hợp đồng, loại công việc sẽ làm và nơi làm việc, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền làm thêm giờ, phụ cấp khác (nếu có), chế độ bảo hiểm và những thông tin cần thiết khác theo hợp đồng cung ứng lao động.

    2. Được đào tạo, giáo dục, định hướng và cấp chứng chỉ, đóng học phí theo qui định của pháp luật.

    3. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp XKLĐ, ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng đã ký, và nội qui nơi ở, nơi làm việc. Không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức, lôi kéo người khác bỏ hợp đồng lao động

    4. Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. Được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, tư pháp.

    5. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại, tôn trọng phong tục tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại. Chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về quản lý công dân Việt Nam ở nước ngoài.

    6. Nộp thuế thu nhập theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại

    7. Tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam

    8. Được chuyển về nước thu nhập bằng ngoại tệ và thiết bị, nguyên liệu theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam

    9. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ, khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm của người sử dụng lao động.

    10. Bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp XKLĐ và bị xử lý do vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật

    11. Được bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp XKLĐ vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.

  • Quyền và nghĩa vụ của người lao động trực tiếp ký hợp đồng với người sử dụng lao động nước ngoài

    1. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp XKLĐ, ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng đã ký và nội qui nơi ở, nơi làm việc, không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức, lôi kéo người khác bỏ hợp đồng lao động.

    2. Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. Được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, tư pháp.

    3. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại, tôn trọng phong tục tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại. Chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về quản lý công dân Việt Nam ở nước ngoài.

    4. Nộp phí dịch vụ XKLĐ cho doanh nghiệp XKLĐ: Không quá một tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển không quá 1,5 tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc.

    5. Nộp tiền đặt cọc (nếu có) và thực hiện thoả thuận ký quỹ hoặc là bảo lãnh cho doanh nghiệp XKLĐ để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài.

    6. Nộp thuế thu nhập theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

    7. Tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam.

    8. Được chuyển về nước thu nhập bằng ngoại tệ và thiết bị, nguyên liệu theo qui định của pháp luật Việt Nam.

    9. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ, khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm của người sử dụng lao động.

Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động

  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài
    1. Chủ động khảo sát thị trường lao động, trực tiếp ký kết và thực hiện hợp đồng cung ứng lao động với nước ngoài theo đúng qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước tiếp nhận lao động. Đối với các nghề đặc thù và các thị trường mới thì thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Doanh nghiệp được Nhà nước tạo các điều kiện thuận lợi trong việc khảo sát, phát triển thị trường, dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động và bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ XKLĐ.
    2. Đăng ký hợp đồng XKLĐ theo qui định.
    3. Công bố, công khai các tiêu chuẩn điều kiện tuyển chọn quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
    4. Phối hợp chặt chẽ với địa phương, cơ sở sản xuất, cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu và trực tiếp tuyển chọn lao động, ưu tiên tuyển chọn người thuộc diện chính sách, người nghèo, không được thu phí tuyển chọn của người lao động.

      Sau sáu tháng, kể từ ngày trúng tuyển mà doanh nghiệp chưa đưa được người lao động đi nước ngoài làm việc thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động, nếu người lao động không còn nhu cầu hoặc doanh nghiệp không thực hiện được hợp đồng thì phải thanh toán lại đầy đủ các khoản mà người lao động đã nộp cho doanh nghiệp.

    5. Tổ chức đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo qui định của pháp luật.
    6. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với người lao động, tổ chức đưa người lao động đi và về nước, thanh lý hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật
    7. Thu, nộp các khoản sau đây:
      1. Thu phí dịch vụ XKLĐ của người lao động, nộp tiền vào quỹ hỗ trợ XKLĐ theo qui định.
      2. Thu và nộp toàn bộ số tiền cọc (nếu có) đã thu của người lao động theo quy định tài khoản 7 điều 18 Nghị định này vào tài khoản của doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Nhà nước trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thu tiền đặt cọc của người lao động, thanh toán đầy đủ tiền đặt cọc và lãi tiền gửi cho người lao động khi hoàn thành hợp đồng đã kí với doanh nghiệp.

        Trong trường hợp xét thấy tiền đặt cọc theo qui định không đủ để thực hiện việc bồi thường, doanh nghiệp có thể thoả thuận với người lao động về biện pháp ký quỹ hoặc bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người lao động theo hợp đồng ký kết với doanh nghiệp và người sử dụng lao động nước ngoài. Việc giao kết và thoả thuận ký quỹ, bảo lãnh tuân theo các qui định của Bộ luật dân sự.

      3. Thu tiền bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập (nếu có) của người lao động để nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội cơ quan thuế cấp tỉnh: Bảo quản và xác nhận vào sổ Bảo hiểm xã hội của người lao động.
    8. Có trách nhiệm theo dõi, quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài. Tuỳ thuộc vào thị trường lao động nước ngoài, doanh nghiệp phải có cán bộ quản lý lao động. Trong trường hợp người lao động bị tai nạn, bị bệnh nghề nghiệp, chết, doanh nghiệp phải phối hợp với các bên liên quan kịp thời xác định nguyên nhân và giải quyết chế độ cho người lao động.
    9. Bồi thường hoặc yêu cầu đối tác nước ngoaì bồi thường thiệt hại cho người lao động về những thiệt hại do doanh nghiệp hoặc đối tác nước ngoài gây ra theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.
    10. . Khởi kiện tại Toà án nhân dân đòi bồi thường thiệt hại do người lao động vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.
    11. . Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ.
    12. Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất theo qui định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
    13. Được giao nhiệm vụ xuất khẩu lao động cho không quá hai đơn vị trực thuộc có trụ sở trên địa bàn tỉnh (thành phố) khác nhau và phải báo cáo với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam

    1. Công bố công khai các tiêu chuẩn điều kiện tuyển chọn quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động

    2. Tổ chức đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo qui định của pháp luật.

    3. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với người lao động: tổ chức đưa người lao động đi và về nước, thanh lý hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật

    4. Có trách nhiệm theo dõi, quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài. Tuỳ thuộc vào thị trường lao động nước ngoài, doanh nghiệp phải có cán bộ quản lý lao động. Trong trường hợp người lao động bị tai nạn, bị bệnh nghề nghiệp, chết, doanh nghiệp phải phối hợp với các bên liên quan kịp thời xác định nguyên nhân và giải quyết chế độ cho người lao động.

    5. Bồi thường hoặc yêu cầu đối tác nước ngoài bồi thường thiệt hại cho người lao động về những thiệt hại do doanh nghiệp hoặc đối tác nước ngoài gây ra theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

    6. Khởi kiện tại Toà án nhân dân đòi bồi thường thiệt hại do người lao động vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.

    7. Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ.

    8. Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất theo qui định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Trách nhiệm của Nhà nước về xuất khẩu lao động

Trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

1. Phối hợp với cơ quan liên quan nghiên cứu phát triển thị trường, xây dựng chiến lược, kế hoạch qui hoạch về XKLĐ và chỉ đạo thực hiện

2. Nghiên cứu xây dựng văn bản qui phạm pháp luật, chính sách, cơ chế xuất khẩu lao động trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện

3. Đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về việc đưa lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo uỷ quyền.

4. Qui định hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Danh mục các nghề và công việc cấm, các khu vực cấm lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.

5. Xây dựng và hướng dẫn thực hiện kế hoạch đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, qui định chương trình đào tạo, giáo dục, định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, bồi dưỡng cán bộ doanh nghiệp XKLĐ, cán bộ quản lý lao động ở nước ngoài.

6. Cấp giấy phép; đình chỉ có thời hạn hoạt động XKLĐ; đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động XKLĐ.

7. Tiếp nhận đăng ký hợp đồng và quản lý hợp đồng của các doanh nghiệp, tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng theo qui định.

8. Thanh tra, kiểm tra các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có liên quan đến việc thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

9. Phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các tổ chức như: Mặt trận TQVN, Tổng Liên đoàn LĐVN, Hội Liên hiệp PNVN, Đoàn Thanh niên CSHCM, Hội Cựu chiến binh VN, Hội nông dân VN, Liên minh HTX VN và doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp VN và UBND cấp tỉnh có liên quan giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc quản lý người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, phối hợp với Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ tổ chức ban quản lý lao động thuộc cơ quan đại diện Việt Nam ở những nước và khu vực có nhiều lao động Việt Nam phù hợp với pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

10. Hàng năm báo cáo Thủ Tướng Chính phủ về tình hình lao động Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan

1. Bộ Ngoại giao chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý Nhà nước đối với lao động Việt Nam ở nước ngoài, cung cấp kịp thời cho Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành chức năng thông tin về thị trường lao động nước ngoài và tình hình người lao động Việt Nam ở nước sở tại.

2. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội qui định chi tiết về việc thu và sử dụng, quản lý quỹ hổ trợ xuất khẩu lao động, phí môi giới trong XKLĐ (phí tư vấn khai thác hợp đồng), mức và thể thức quản lý tiền đặt cọc của ngưôøi lao động.

3. Bộ Công an cấp hộ chiếu cho người lao động theo qui định của pháp luật và trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội trong việc phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động XKLĐ.

4. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính qui định thống nhất mức phí kiểm tra sức khoẻ cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chỉ đạo các cơ sở y tế tổ chức kiểm tra sức khoẻ và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra sức khoẻ cho người lao động.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội xây dựng kế hoạch XKLĐ hàng năm và 5 năm.

6. Bộ Thương mại và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách tạo điều kiện để người lao động và doanh nghiệp XKLĐ thực hiện các quyền qui định tại khoản 10 điều 18 nghị định này. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc ký quỹ hoạt động xuất khẩu lao động theo qui định.

7. Bộ Văn hoá – Thông tin phối hợp với các cơ quan liên quan định hướng và chỉ đạo các cơ quan thông tin ñại chúng trong việc thông tin, tuyên truyền phục vụ chiến lược XKLĐ của Đảng và Nhà nước, xử lý kịp thời và nghiêm minh những trường hợp đưa tin thiếu khách quan, thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến hoạt động XKLĐ.

8. Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao thực hiện nội dung qui định về xuất khẩu lao động.

Mặt trận TQVN, Tổng Liên đoàn LĐVN, Hội Liên hiệp PNVN, Đoàn Thanh niên CSHCM, Hội Cựu chiến binh VN, Hội nông dân VN, Liên minh HTX VN và doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp VN và UBND cấp tỉnh có doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc nước ngoài có trách nhiệm

1. Thực hiện quản lý hoạt động XKLĐ đối với các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý.

2. Chỉ đạo các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo qui định và bảo đảm và tạo điều kiện cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

3. Thanh tra, kiểm tra hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động XKLĐ.

4. Hàng năm đánh giá hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý và báo cáo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh

1. Thực hiện quản lý Nhà nước về XKLĐ trong phạm vi địa phương

2. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc và UBND cấp dưới:

  1. Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách về XKLĐ
  2. Tạo nguồn và giới thiệu người lao động có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt các qui định của pháp luật để tham gia dự tuyển đi làm việc ở nước ngoài.
  3. Phối hợp với các doanh nghiệp hoạt động XKLĐ tuyển lao động tại
  4. địa phương. Xác định trách nhiệm của gia đình người lao động để lao động thực hiện tốt qui định và nghĩa vụ được qui định trong hợp đồng đã ký với doanh nghiệp và hợp đồng lao động làm việc tại nước ngoài.

3. Thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động tại địa phương phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động XKLĐ.

Tuyển chọn, giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

Tuyển chọn

Tuyển chọn lao động là khâu hết sức quan trọng, bảo đảm cho doanh nghiệp thực hiện được hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp đồng sản xuất kinh doanh ở nước ngoài.

Việc tuyển chọn lao động, trước hết phải xuất phát từ yêu cầu thực hiện hợp đồng với bên nước ngoài. Việc ký kết hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam, do đó, việc tuyển chọn lao động cũng phải tuân theo các qui định của pháp luật Việt Nam. Pháp luật lao động có các qui định cụ thể về đối tượng, nguyên tắc tuyển chọn, trình tự thủ tục tuyển chọn và bao gồm cả quá trình chuẩn bị về mọi mặt cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, các qui định đó là nhằm để thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết trong hợp đồng bảo đảm chất lượng của hoạt động XKLĐ.

  • Nguyên tắc tuyển chọn

    Việc tuyển chọn chỉ được tiến hành sau 3 ngày đối với doanh nghiệp có giấy phép hoạt động chuyên doanh và 7 ngày đối với doanh nghiệp không chuyên doanh kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp. Nếu chưa có thông báo của các Cục Quản lý Lao động với nước ngoài thì không được phép tuyển chọn.

    Nếu tuyển lao động thuộc các đơn vị địa phương khác thì doanh nghiệp phải xuất trình giấy phép được hoạt động trong lĩnh vực này.

    Doanh nghiệp dành khoảng 10 % số lượng lao động theo hợp đồng đã ký để tuyển chọn con liệt sĩ, thương binh, con gia đình có công với cách mạng, bộ đội, thanh niên xung phong đã hoàn thành nghĩa vụ.

    Không được đưa những người đi nước ngoài làm việc trong những nghề, những khu vực cấm.

  • Đối tượng và nguồn tuyển chọn

    Thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong các đơn vị quân đội, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện tham gia các chương trình dự án ở những nơi khó khăn (biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa) đã hoàn thành nghĩa vụ.

    Lao động đang làm việc ở các công ty, xí nghiệp có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài.

    Học sinh tốt nghiệp các trường đào tạo

    Lao động chưa có việc làm ở xã, phường, thị trấn, trong đó ưu tiên tuyển chọn con em các gia đình chính sách, lao động thiếu việc làm ở nông thôn.

  • Thủ tục tuyển chọn

    Các doanh nghiệp XKLĐ và chuyên gia khi có nhu cầu tuyển lao động thì căn cứ ngành, nghề tiêu chuẩn, có công văn đề nghị các đơn vị cơ sở sau đây để tuyển chọn:

    - Các đơn vị quân đội, công an, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện tập trung có cán bộ, chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ.

    - Các doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất

    - Các trường, trung tâm đào tạo

    - UBND các xã, phường, thị trấn

    Khi tuyển chọn lao động, doanh nghiệp phải xuất trình giấy phép hoạt động chuyên doanh, đăng ký hợp đồng, kế hoạch, tiêu chuẩn tuyển chọn, cơ cấu ngành, nghề, giới tính, số lượng dự tuyển và số lượng tuyển chính thức với Sở Lao động- Thương binh và Xã hội để thông báo bằng văn bản cho các cơ sở đơn vị trên địa bàn có nguồn lao động đáp ứng yêu cầu tuyển chọn.

    Doanh nghiệp trực tiếp tuyển chọn lao động trong số những người đăng ký dự tuyển theo kế hoạch đã thống nhất với cơ sở cung cấp lao động.

  • Qui trình tuyển chọn

    Trước khi tuyển chọn, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ phải thông báo công khai tại trụ sở địa phương, địa bàn tuyển chọn các yêu cầu về giới tính, tuổi đời, công việc mà người lao động phải đảm nhiệm, nơi làm việc và thời hạn của hợp đồng, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền đặt cọc, tiền công, các khoản và mức phải đóng góp, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.

    Doanh nghiệp trực tiếp tuyển chọn lao động chậm nhất sau 5 ngày kể từ ngày người lao động dự tuyển, doanh nghiệp phải thông báo công khai kết quả cho người lao động. Sau khi người lao động trúng tuyển, doanh nghiệp phải thông báo thời gian dự kiến đưa đi, nếu chậm phải thông báo rõ lý do cho người lao động.

    Sau 6 tháng kể từ ngày trúng tuyển, doanh nghiệp chưa đưa người lao động đi được thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động biết.

    Doanh nghiệp ký hợp đồng với bệnh viện do ngành y tế qui định để khám sức khoẻ cho người lao động. Doanh nghiệp chỉ được tuyển chọn những người có đủ sức khoẻ theo kết luận của bệnh viện

    Doanh nghiệp có thể tuyển những người đã có nghề hoặc thông qua các trường đào tạo hoặc chủ động tổ chức đào tạo nghề và ngoại ngữ phù hợp với số lượng và cơ cấu ngành nghề theo kế hoạch đưa lao động đi hàng năm, không được tổ chức đào tạo tràn lan, gây tốn kém đối với người lao động. Khi chuẩn bị nguồn lao động và đào tạo, doanh nghiệp phải thông báo rõ cho người lao động về điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn các khoản mà người lao động phải đóng trong đào tạo, thi tuyển và phải ký hợp đồng đào tạo với người lao động theo học.

    Hồ sơ tuyển chọn gồm có:

    - Đơn tự nguyện đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài có cam kết của bản thân và gia đình.

    - Sơ yếu lý lịch có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc cơ quan, đơn vị nơi quản lý nhân sự.

    - Giấy chứng nhận sức khoẻ có kết luận của bệnh viện do ngành y tế qui định.

    - Các giấy tờ cần thiết khác theo yêu cầu của bên nước ngoài

Đào tạo và giáo dục định hướng

  • Nội dung đào tạo

    Học ngoại ngữ: Người lao động phải đạt yêu cầu về ngoại ngữ do Cục Quản lý Lao động ngoài nước qui định, đối với chuyên gia do nước tiếp nhận lao động qui định.

    Đào tạo, bổ túc kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề cho người lao động trong trường hợp cần thiết để có đủ điều kiện thực hiện hợp đồng.

  • Giáo dục định hướng

    - Nội dung hợp đồng doanh nghiệp ký với doanh nghiệp nước ngoài, hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp sẽ ký với người lao động, hợp đồng lao động người sử dụng lao động sẽ ký với người lao động, quyền lợi. nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc thực hiện các điều khoản đã ghi trong hợp đồng.

    - Những hiểu biết cơ bản về pháp luật lao động, hình sự, dân sự, xuất nhập cảnh của Việt Nam, pháp luật của nước nhận lao động, nghĩa vụ chấp hành và tuân thủ pháp luật và các qui định hiện hành của Nhà nước về lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.

    - Phong tục, tập quán, tôn giáo và sinh hoạt của nước nhận lao động, kinh nghiệm giao tiếp, quan hệ ứng xử với người sử dụng lao động và những người lao động khác tại nơi làm việc.

    - Kỷ luật và tác phong lao động công nghiệp, những qui định, qui phạm về an toàn, vệ sinh lao động.

  • Chương trình và tài liệu

    Cục Quản lý Lao động ngoài nước qui định chương trình và phát hành tài liệu giáo dục, định hướng đối với người lao động.

    Chương trình và tài liệu đối với chuyên gia theo qui định của Bộ quản lý chuyên ngành.

    Chương trình và tài liệu đối với sĩ quan, thuỷ thủ làm việc trên tàu vận tải biển theo qui định của Bộ giao thông vận tải

    • Kiểm tra và cấp chứng chỉ

      Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả và cấp chứng chỉ đào tạo giáo dục định hướng cho những người đạt yêu cầu do cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm.

    • Trách nhiệm của doanh nghiệp

      Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động đã được tuyển chọn tại cơ sở đào tạo – giáo dục định hướng của doanh nghiệp theo qui chế của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội.

Giải quyết tranh chấp về xuất khẩu lao động

Tranh chấp trong xuất khẩu lao động là một loại tranh chấp khá phức tạp.

Sự phức tạp của các tranh chấp này thể hiện ở chỗ: Quan hệ tranh chấp có liên quan đến nhiều bên, gồm bên sử dụng lao động nước ngoài, bên doanh nghiệp cung ứng lao động của Việt Nam và người lao động Việt Nam và trong các mối quan hệ khác nhau như quan hệ về cung ứng lao động giữa doanh nghiệp chuyên doanh XKLĐ Việt Nam với đơn vị sử dụng lao động nước ngoài, quan hệ (dịch vụ) về đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giữa người lao động Việt Nam với doanh nghiệp XKLĐ Việt nam, quan hệ về sử dụng lao động giữa người lao động Việt nam với người sử dụng lao động nước ngoài.

Với mối quan hệ phức tạp giữa các chủ thể trong quan hệ xuất khẩu lao động, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phải đưa ra nguyên tắc giải quyết tranh chấp, pháp luật giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tạo nên một thị trường XKLĐ hữu nghị, hợp tác, hai bên cùng có lợi.

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp

Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa các bên tranh chấp một cách khách quan và kịp thời.

Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng các quyền và lợi ích của các bên, tôn trọng lợi ích chung của xã hội tuân theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

Doanh nghiệp có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp mình. Trường hợp tranh chấp phức tạp, ảnh hưởng đến quan hệ lao động giữa hai nước phải báo cáo kịp thời, đầy đủ và trình phương án giải quyết với cơ quan quản lý doanh nghiệp và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội..

Pháp luật giải quyết tranh chấp

Tranh chấp giữa người lao động Việt nam và doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài đã ký giữa hai bên và qui định của pháp luật Việt Nam.

Tranh chấp giữa người lao dộng Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên và qui định của pháp luật nước nhận lao động.

Tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài không trực tiếp sử dụng lao động được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Trường hợp hợp đồng không qui định pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

Tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt nam và người sử dụng lao động nước ngoài được giải qyết trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên (nếu có), hợp đồng khác có liên quan. Trường hợp hợp đồng không qui định pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

Tranh chấp hợp đồng liên quan đến nhiều bên được giải quyết tuân theo pháp luật do các bên thoả thuận, lựa chọn : Nếu không thoả thuận được thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Những tranh chấp về xuất khẩu lao động liên quan đến pháp luật Việt nam được giải quyết theo hướng dẫn liên tịch của Bộ Tư pháp, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Viện Kiểm soát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo về XKLĐ

Khiếu nại của người lao động, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ do cục trưởng Cục Quản lý Lao động nước ngoài thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xem xét, kết luận và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội biện pháp giải quyết, tố cáo về XKLĐ do Thứ trưởng cơ quan thanh tra thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xem xét, kết luận và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội biện pháp giải quyết.

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại tố cáo thì người lao động, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hoặc khởi kiện ra toà hành chính theo qui định của pháp luật.

So với nghị định 81/2003 thì Nghị định số 152: Các điều 23. 24 chỉ qui định chung về việc khen thưởng và xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động XKLĐ mà chưa có qui định vấn đề giải quyết tranh chấp và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực này. Vì thế, khi có tranh chấp xảy ra thì các cơ quan chức năng lúng túng và bị động trong khâu giải quyết. Nhiều vụ khiếu nại, tố cáo (về việc sử dụng lao động nước ngoài vi phạm nghiêm trọng quyền lợi, nhân phẩm người lao động, về tiền đặt cọc, bồi thường…) không được giải quyết triệt để làm cho người lao động và gia đình họ bị thiệt hại nặng nề về kinh tế, nguyên nhân là do chúng ta chưa có cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng và hợp lý.

12 Giúp bạn lựa chọn tham gia xuất khẩu lao động-TS Nguyễn Vinh Quang, Bùi Thị Xuyến – NXB Thanh niên Hà Nội - 2001

13 Giúp bạn lựa chọn tham gia xuất khẩu lao động-TS Nguyễn Vinh Quang, Bùi Thị Xuyến – NXB Thanh niên Hà Nội - 2001

Đánh giá:
0 dựa trên 0 đánh giá

Tuyển tập sử dụng module này

Nội dung cùng tác giả
 
Nội dung tương tự