Mô hình
Xét một hệ ba chiều gồm điện tử có khối lượng đặt trong một trường nào đó. Hamiltonian của hệ phụ thuộc vào tọa độ của hạt mà mỗi hạt có ba thành phần theo ba phương khác nhau nên Hamiltonian của hệ phụ thuộc vào toạ độ. Hamiltonian của hệ có thể viết dưới dạng:
Phương trình Schrodinger của hệ có dạng
Thực tế thì phương trình trên không phải là một phương trình mà là một hệ phương trình vi phân, mỗi phương trình không thể giải được giải tích chính xác, nên hệ phương trình trên cũng không giải chính xác được mà phải giải gần đúng. Một trong các phương pháp gần đúng thông dụng là phương pháp Hartree - Fock. Nội dung của phương pháp này là chuyển việc nghiên cứu giải phương trình Schrodinger của hệ nhiều điện tử (hệ phương trình nhiều biến) về việc nghiên cứu phương trình Schrodinger đơn điện tử (phương trình một biến).
Phương trình Schrodinger của hệ điện tử ở trạng thái dừng có dạng
với Hamiltonian
trong đó là toán tử Hamiltonian của điện tử thứ trong trường . Số hạng thứ hai của Hamiltonian mô tả tương tác Coulomb giữa tất cả các điện tử, là hằng số điện môi, là khoảng cách giữa 2 hạt và .
Để đưa phương trình Schrodinger của hệ điện tử về phương trình của một điện tử ta đưa vào khái niệm trường trung bình. Hãy đơn cử lấy một điện tử thứ nào đó. Điện tử này tương tác với tất cả điện tử còn lại, và do đó có thể mô tả điện tử đó bằng cách xét chuyển động của nó ở trong trường được tạo ra bởi tất cả các điện tử còn lại. Giả sử tại mỗi thời điểm ta có thể tạo ra được ở vị trí của điện tử thứ một trường giống như trường được tạo thành bởi các điện tử còn lại. Kí hiệu trường thế của điện tử thứ trong trường của các điện tử còn lại là . này sẽ phải mô tả gần đúng nhất tác dụng trung bình của tất cả các điện tử lên một điện tử nào đó.
Gần đúng Hartree
Giả sử bằng cách nào đó ta đã biết được trường thế trung bình này . Khi đó toán tử Hamiltonian của hệ điện tử được viết lại dưới dạng
với là toán tử Hamiltonian của một điện tử thứ .
Toán tử Hamiltonian của hệ được viết thành tổng của Hamiltonian với Hamiltonian thứ chỉ phụ thuộc vào tọa độ của hệ, do đó hàm sóng của hệ có thể tìm được dưới dạng tích trực tiếp của hàm sóng
với là hàm riêng của toán tử Hamiltonian với trị riêng , ta có
với năng lượng của hệ
Mật độ xác suất tìm thấy điện tử thứ nhất ở vị trí , điện tử thứ hai ở vị trí . . . điện tử thứ ở vị trí bằng
Mât độ xác suất tìm thấy điện tử thứ ở vị trí bằng . Mật độ điện tích của điện tử thứ ở vị trí bằng với .
Thế năng tương tác Coulomb giữa điện tử thứ ở vị trí với điện tử thứ ở vị trí là
với
Thế năng tương tác giữa điện tử thứ với tất cả các điện tử còn lại cßn l¹i bằng
Đó là biểu thức thế năng hiệu dụng của phương pháp trường trung bình trong gần đúng Hartree đưa ra năm 1928.
Gần đúng Hartree - Fock
Trong phép gần đúng Hartree ở trên chúng ta chưa tính đến nguyên lí hệ các hạt đồng nhất. Các điện tử có spin bán nguyên nên chúng tuân theo thống kê Fermi - Dirac và chúng thỏa mãn nguyên lí loại trừ Pauli. Trạng thái của điện tử được đặc trưng bởi 3 tọa độ và một thành phần nữa là hình chiếu của spin lên phương . Đối với điện tử có trị riêng là với . Hàm sóng của điện tử là hàm của các biến số tọa độ và kí hiệu các biến số này là .
Để mô tả trạng thái của điện tử có tính đến spin ta đưa vào hàm như sau
Khi đó ta có
Nếu bỏ qua tương tác giữa mômen từ của điện tử với từ trường do điện tử chuyển động theo quỹ đạo gây nên thì ta có thể biểu diễn hàm sóng của điện tử dưới dạng
chỉ số k ở hàm kí hiệu trạng thái lượng tử .
Điều kiện trực giao và chuẩn hóa của hàm
Phương trình Schrodinger có dạng
Để phù hợp với nguyên lý loại trừ Pauli hàm phải là hàm phản đối xứng và nó có dạng là định thức Slater.
trong đó ký hiệu là hàm nhận được từ hàm
bằng cách hoán vị cặp biến số bất kì cho nhau. Khi hoán vị bất kì một cặp chỉ số hay một cặp trạng thái cho nhau thì định thức đổi dấu. Khi hay thì định thức bằng 0 (không tồn tại hàm sóng) điều này thỏa mãn nguyên lí loại trừ Pauli (không tồn tại hơn một hạt trên 1 trạng thái lượng tử).
Thực tế thì thế trong còn chưa biết nên hàm là hàm riêng của vẫn còn chưa xác định. Ta dùng nguyên lí biến phân để xác định
Gọi và là hàm sóng và năng lượng của hệ ở trạng thái cơ bản của hệ lượng tử với toán tử Hamiltonian và thỏa mãn phương trình Schrodinger
là hàm sóng không phải ở trạng thái cơ bản (ở trạng thái kích thích) Năng lượng trung bình của hệ lượng tử trong trạng thái là
vì là năng lượng ở trạng thái cơ bản (là nhỏ nhất ) nên nghĩa là
Ta thấy các hàm càng gần với hàm riêng bao nhiêu thì càng gần bấy nhiêu. Ta chọn trước một lớp hàm nào đó có dạng thích hợp rồi trong lớp hàm này chọn một hàm sao cho giá trị là nhỏ nhất (gần nhất) nghĩa là lời giải gần đúng nhất của bài toán vì ứng với hàm đã cho là nhỏ nhất nên . Vậy nghiệm gần đúng nhất phải thỏa mãn điều kiện
đó là nội dung của nguyên lí biến phân.
Năng lượng trung bình của hệ điện tử
với
Thay hàm sóng (10) vào ta có năng lượng trung bình của hệ điện tử
thay và chú ý ta có
Trong số hạng cuối ta chỉ lấy tổng ứng với các cặp điện tử có spin định hướng song song cùng chiều
Ta tính rồi sau đó cho
ta có
thừa số 1/2 trong hai tổng cuối của sẽ mất đi vì khi lấy biên phân theo ta gặp hai lần một lần theo tổng một lần theo tổng .
Từ điều kiện chuẩn hóa hàm sóng
ta suy ra
Nhân biểu thức này với (thừa số Lagrange), ta có
cộng đẳng thức này với ta được
Vì các biến phân trong biểu thức của là độc lập tuyến tính, nên biểu thức trong [ . . . ] phải bằng 0. Như vậy ta có phương trình đối với hàm sóng có dạng sau
Biểu thức của cần tìm có dạng
vì
Phương trình [link] là phương trình Hartree - Fock cho phép ta xác định hàm sóng tự hợp ở trạng thái trong đó là trường hiệu dụng được xác định bởi [link]. Để giải [link] ta chọn nghiệm gần đúng nào đó đã biết (chẳng hạn hàm sóng của một điện tử tự do hay hàm sóng của điện tử trong nguyên tử, hàm sóng này có thể giải chính xác được) thì ta tính được . Giải phương trình [link] để tìm được hàm sóng mới gần đúng với thực tế hơn tiếp theo dùng hàm để tính được rồi lại đặt vào phương trình [link] rồi giải ... Cứ thế tiếp tục cho đến khi ta tìm được nghiệm gần đúng tốt nhất (tức là giá trị của hai nghiệm liên tiếp liền nhau khác nhau không đáng kể. Trường được tính như trên được gọi là trường tự hợp.